lời mở đầu và kết luận, Luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề cơ bản về chất lƣợng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng thương mại Doanh nghiệp xây lắp là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình xây dựng. Trong nền kinh tế thị trƣờng, DNXL luôn phải đối đầu với sự cạnh tranh gay gắt; để chiến thắng trong cạnh tranh, các DNXL phải có một tiềm lực tài chính mạnh để thực hiện những hoạt động nhƣ đổi mới dây chuyền công nghệ, mua sắm máy móc hiện đại, mua sắm nguyên vật liệu, cải tiến nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, chất lƣợng các công trình xây dựng, hạ giá thành,… Trên thực tế, do khả năng tài chính có hạn nên hầu hết các doanh nghiệp xây lắp đều cần sự hỗ trợ từ bên ngoài. Nhu cầu tài trợ đối với DNXL xuất phát từ những đòi hỏi trên.
Cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp của ngân hàng thương mại là hoạt động tài trợ vốn của Ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp xây lắp có sự hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian theo thỏa thuận. Hoạt động cho vay đối với DNXL của ngân hàng thƣơng mại đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính, góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các DNXL, từ đó, tăng cƣờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, tạo điều kiện cần cho sự phát triển của đất nƣớc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đặc trưng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp 1.
Những nét đặc thù trong hoạt động của doanh nghiệp xây lắp So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm của ngành. Những đặc điểm riêng của ngành và đặc điểm sản phẩm xây lắp sẽ chi phối công tác tổ chức quản lý, điều hành hoạt động SXKD của DNXL. * Về sản phẩm xây lắp - Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng (từ công trình xây dựng công nghiệp đến dân dụng, cầu đƣờng, cơ sở hạ tầng, xây lắp điện…) có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc: Đặc điểm này dẫn đến chu kỳ sản xuất dài, vốn đầu tƣ bỏ vào để xây dựng dễ bị ứ đọng, gây lãng phí, hoặc ngƣợc lại nếu thiếu vốn sẽ làm công tác thi công bị gián đoạn, kéo dài thời gian xây dựng. Do đó, yêu cầu công tác quản lý tài chính phải có kế hoạch, có biện pháp kỹ thuật thi công tốt để rút ngắn thời gian xây dựng, tiết kiệm vật tƣ, lao động, tiết kiệm chi phí quản lý để hạ giá thành xây dựng.
- Sản phẩm xây lắp có tính chất cố định, nơi sản xuất gắn liền với nơi tiêu thụ sản phẩm: Các tƣ liệu sản xuất phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc điểm này làm khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất. Do đó, để giảm thiểu lãng phí, thất thoát trên đòi hỏi trƣớc khi khởi công xây dựng công trình phải làm thật tốt công tác chuẩn bị đầu tƣ và chuẩn bị xây dựng; hiệu quả kinh doanh sẽ phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức quản lý của DNXL. - Sản phẩm xây lắp chịu ảnh hƣởng của điều kiện thiên nhiên, khí hậu, địa chất, thuỷ văn,.: Rủi ro xảy ra tác động tới tiến độ thi công công trình, giá thành công trình, thậm chí cả chất lƣợng công trình.
Do đó, các DNXL phải tổ chức thi công hợp lý, có phƣơng án sử dụng cũng nhƣ bảo quản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nguyên, nhiên vật liệu để tránh bị tác động xấu của các điều kiện tự nhiên và quản lý hiệu quả chi phí. - Đối tƣợng hạch toán chi phí cụ thể trong xây lắp là các hạng mục công trình, các giai đoạn của hạng mục hay nhóm hạng mục. Do đó, DNXL phải lập dự toán chi phí và tính giá thành theo từng hạng mục công trình hay giai đoạn của hạng mục công trình. * Đặc điểm về tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh - Hoạt động SXKD của DNXL là hoạt động mang tính đặc thù, các DNXL chỉ sản xuất những sản phẩm mà chủ đầu tƣ đặt hàng và đƣợc tiêu thụ khi chủ đầu tƣ chấp thuận theo các điều kiện đã ký kết.
Hoạt động của DNXL phần nào phụ thuộc vào khả năng phát triển, đầu tƣ và mở rộng của nền kinh tế, nếu đầu tƣ của nền kinh tế tăng trƣởng cao thì thị trƣờng tiêu thụ của DNXL có khả năng đƣợc mở rộng. Trên cơ sở đó, hoạt động cho vay của NHTM đối với DNXL để tham gia thi công các công trình phục vụ cho nhu cầu phát triển của nền kinh tế cũng có khả năng mở rộng. - Kết quả SXKD của DNXL đƣợc thực hiện khi các công trình xây lắp (sản phẩm xây lắp) đƣợc chủ đầu tƣ chấp thuận và thanh toán, và chỉ khi đó DNXL mới có khả năng trả nợ ngân hàng. Vì vậy, quan hệ tín dụng giữa DNXL và Ngân hàng, hay nói cách khác chất lƣợng cho vay đối với DNXL sẽ phụ thuộc lớn vào mối quan hệ giữa chủ đầu tƣ (bên A) và DNXL (bên B), mối quan hệ này thể hiện ở: Chất lƣợng thực hiện công trình, phƣơng thức nghiệm thu thanh toán của chủ đầu tƣ, tiến độ xây dựng, nguồn vốn xây dựng cơ bản của chủ đầu tƣ… * Về tình hình tài chính của DNXL - Tốc độ chu chuyển vốn trong các DNXL thƣờng không cao, nhu cầu vốn lƣu động thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Do đặc điểm xây dựng một đơn vị sản phẩm đòi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời gian thi công kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trình thi công dở dang.
Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán và thanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tƣ. Các DNXL thƣờng xuyên bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lƣu động thƣờng rất thấp, nhu cầu vốn lƣu động cần thiết cho thi công lớn. - Khả năng tự chủ về tài chính thấp: Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu của DNXL thƣờng chỉ chiếm khoảng 5-20% trong tổng nguồn, còn lại là vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng khác. Do đó gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Lợi nhuận đạt đƣợc không cao nên khả năng bổ sung vốn chủ sở hữu và đầu tƣ nâng cao năng lực sản xuất thi công thƣờng hạn chế. Trong khi đó, do sản lƣợng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao về chất lƣợng công trình đòi hỏi phải có những thiết bị thi công hiện đại nên nhu cầu vốn (cả vốn lƣu động và vốn đầu tƣ trung dài hạn) ngày càng tăng. - Ngoài ra, xu thế chung hiện nay, các DNXL sau thời gian đầu hoạt động có hiệu quả, có nền tảng cơ bản về sản xuất, thị trƣờng đầu vào, đầu ra thƣờng có xu hƣớng mở rộng đầu tƣ sang nhiều lĩnh vực khác nhƣ đầu tƣ bất động sản, thủy điện,… nhằm đạt đƣợc mức tỷ suất lợi nhuận cao hơn, tăng năng lực tài chính; nhiều DNXL vừa là chủ đầu tƣ dự án, vừa là đơn vị thực hiện các hạng mục thi công xây lắp của dự án. Đặc trưng cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp Xuất phát từ những nét đặc thù trong hoạt động của doanh nghiệp xây lắp, nghiệp vụ cho vay phục vụ thi công xây lắp cũng có những đặc điểm riêng: Thứ nhất, nhu cầu vay vốn lƣu động lớn, thời gian cho vay vốn lƣu động thƣờng kéo dài hơn thời gian cho vay đối với doanh nghiệp hoạt động LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trong nhiều lĩnh vực khác (kinh doanh thƣơng mại, SXKD khác): Vì đặc điểm của ngành xây lắp là thời gian thi công, nghiệm thu, thanh toán và quyết toán của công trình thƣờng kéo dài, tốc độ quay vòng vốn lƣu động thƣờng rất thấp, nhu cầu vốn lƣu động cần thiết cho thi công lớn hơn so với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác.
Thứ hai, đối tƣợng cho vay vốn lƣu động là những chi phí trực tiếp liên quan và phục vụ cho DNXL thực hiện các hợp đồng thi công xây lắp, cụ thể nhƣ sau: - Chi phí nguyên vật liệu phục vụ thi công xây lắp: Cát, đá sỏi, thuê xe vận chuyển, xi măng, sắt thép và các chi phí nguyên vật liệu khác. - Chi phí nhân công: Lƣơng Cán bộ nhân viên, công nhân xây dựng, nhân công thuê ngoài và các chi phí nhân công khác. - Chi phí thuê thiết bị máy móc thi công, chi phí sửa chữa nhỏ thiết bị, công cụ phân bổ vào công trình. - Chi phí ban đầu triển khai thi công công trình nhƣ: Chi phí lán trại, chuyển máy móc thiết bị và các chi phí khác.
Chi phí chung. - Thanh toán cho nhà thầu phụ (B’) trong trƣờng hợp khách hàng là nhà thầu chính. - Các chi phí khác phục vụ thi công công trình xây lắp trong dự toán xây lắp công trình. Thứ ba, căn cứ xác định các điều khoản vay vốn có tính đặc thù riêng: Việc cho vay phải căn cứ trên cơ sở hợp đồng giao nhận thầu xây lắp đã đƣợc ký kết giữa bên nhận thầu và bên giao thầu; bên giao thầu có thể chính là chủ đầu tƣ hoặc là ngƣời đƣợc chủ đầu tƣ ủy quyền.
Đồng thời, để xác định doanh số cho vay đối với một công trình cần dựa vào các yếu tố: Giá trị hợp đồng xây lắp công trình; Vốn tự có và huy động khác tham gia vào công trình là bao nhiêu? Lợi nhuận định mức của công trình là bao nhiêu? Vốn chủ đầu tƣ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.