CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1 Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1.1 Khái niệm, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1.1 Khái niệm cán bộ Thuật ngữ “cán bộ” đã được nhiều nhà nghiên cứu và biên soạn nhưng nhìn chung đều được hiểu th o những nghĩa sau: Th o từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Cán bộ: 1. Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước – cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ” [15, tr. Như vậy, th o định nghĩa này, cán bộ là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn hay có chức vụ trong cơ quan Nhà nước hay một tổ chức.
Trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam do Nguyễn Lân chủ biên: “Cán bộ: Người phụ trách một công tác của chính quyền hay đoàn thể” [13, tr. Th o Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikip dia: “Cán bộ trong Tiếng Việt thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính) và thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Trong Từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên cũng đưa ra khái niệm về “cán bộ” như sau: “Cán bộ: 1. Người trong cơ quan Nhà nước - cán bộ Nhà nước.
Người giữ chức vụ phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước” [20; tr. Trong thời kỳ CNH – HĐH, khái niệm về cán bộ trong một số đề tài nghiên cứu được định nghĩa như sau: “Cán bộ là một khái niệm dùng để chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động 6 của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng cho sự phát triển của tổ chức” [16, tr. Luật cán bộ, công chức được Quốc hội ban hành ngày 13/11/2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 đã quy định cụ thể: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh th o nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sau đây gọi chung là cấp tỉnh , ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sau đây gọi chung là cấp huyện , trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Cán bộ xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ th o nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách NN.
Th o Nghị định số 2/200 /NĐ-CP ngày 22/10/200 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì cán bộ cấp xã bao gồm các chức vụ sau: a Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; b Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; d Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; g Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam ; 7 h Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.2 Khái niệm Công chức Th o Từ điển Tiếng việt phổ thông, thuật ngữ “công chức” được hiểu: “Người được tuyển dụng và bổ nhiệm, làm một công việc thường xuyên trong cơ quan NN, hưởng lương do ngân sách NN cấp”[15, tr. Trong Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, tác giả Nguyễn Lân đã đưa ra định nghĩa “công chức”: “Nhân viên cơ quan Nhà nước” [13, tr. Th o Từ điển bách khoa toàn thư mở Wikip dia, “Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước. Công chức của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế.
Phạm vi làm việc của công chức là các cơ quan nhà nước”. Th o quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập , trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập th o quy định của pháp luật. Th o Nghị định số 2/200 /NĐ-CP ngày 22/10/200 của Chính phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau: 8 a Trưởng Công an; b Chỉ huy trưởng Quân sự; c Văn phòng - thống kê; d Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường đối với phường, thị trấn hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường đối với xã ; đ Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; g Văn hoá - xã hội 1.3 Đội ngũ cán bộ, công chức Có nhiều quan niệm và nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Trong các tổ chức chính trị -xã hội, khái niệm “đội ngũ” được sử dụng một cách rộng rãi như: “Đội ngũ giáo viên”; “Đội ngũ y bác sĩ”; “Đội ngũ công nhân lành nghề”;…Tất cả những khái niệm này đều xuất phát từ cách sử dụng từ ngữ trong quân sự về “đội ngũ” nhằm chỉ khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng có quy củ.
Mặc dù có nhiều cách diễn tả nhưng đều có được hiểu th o một khái niệm thống nhất, đó là: Đội ngũ là một nhóm tập hợp người được tổ chức và tập hợp lại thành một đội, một lực lượng, có cùng mục đích và chí hướng. Tóm lại, cách hiểu chung nhất có thể được dùng là: Đội ngũ là một nhóm người được tập hợp lại dưới sự dẫn dắt và điều hành của một người, hay nhóm người đứng đầu, có cùng lý tưởng, có cùng mục đích, gắn bó và đoàn kết với nhau cả về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần. Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức có thể hiểu là tập hợp lực lượng cán bộ, công chức trong một tổ chức nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà tổ chức giao phó. Đội ngũ CB, CC là tập hợp lực lượng CB, CC được bầu cử, được tuyển dụng, bổ nhiệm hay được phân công làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong cơ quan của Đảng,… 9 1.4 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Khi nói về vai trò của người lãnh đạo phong trào cách mạng, trong tác phẩm“Những nhiệm vụ bức thiết của phong trào chúng ta”, Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào".
Tổng kết những năm đầu của cách mạng, Lênin còn khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm những người cán bộ có bản lĩnh hiện nay đó là then chốt; nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là mớ giấy lộn”. Là người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, khi nói đến vấn đề cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm và coi đây là vấn đề th n chốt. Người khẳng định: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng". Vai trò hết sức quan trọng của cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng còn thể hiện ở chỗ nếu thiếu họ thì không có cách mạng, mục tiêu đề ra không thể hoàn thành, cán bộ có vai trò quyết định đối với công việc như chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Cán bộ, công chức có vị trí, vai trò quan trọng đối với cơ quan, tổ chức. Cán bộ, công chức là thành viên cấu thành tổ chức bộ máy. Cán bộ, công chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động của tổ chức. Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán bộ.
Cán bộ, công chức tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng, CB,CC kém sẽ làm cho bộ máy tê liệt "Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt" .