CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm cán bộ, công chức và khái niệm cán bộ công chức cấp xã - Khái niệm cán bộ: Cán bộ là một danh từ xuất hiện ở nước ta từ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, từ “cán bộ” được du nhập từ Trung Quốc, ban đầu được dùng nhiều trong quân đội, sau đó dùng để chỉ tất cả những người thoát ly, để phân biệt với quần chúng. Cho đến nay, theo cách hiểu thông thường cán bộ được coi là tất cả những người hoạt động thoát ly, làm việc trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang. Hiện nay, khái niệm cán bộ có nhiều cách hiểu khác nhau và ở từng nước với pham vi rộng, hẹp cũng khác nhau. Ở nước ta, CB được sử dụng phổ biến từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Nói đến định nghĩa CB thì người ta thường nhắc tới hai phía cạnh: Người CB có chức vụ trong các cơ quan nhà nước hoặc trong một tổ chức nào đó. Trong đời sống xã hội thường ngày, theo cách hiểu thông thường của người dân thì CB được coi là tất cả những người thoát ly, làm việc trong các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, quân đội, được hưởng lương. Theo Từ điển Tiếng Việt [5], CB có hai nghĩa: một là, là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước…; hai là, là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ. Với nghĩa thứ nhất, CB không chỉ là những người làm công tác có chuyên môn nghiệp vụ trong cơ quan nhà nước, mà còn trong cả hệ thống chính trị và cũng chỉ những người có trình độ đã qua đào tạo từ cao đẳng, đại học trở lên.
Những người có trình độ đào tạo thấp hơn gọi là nhân viên. Bộ phận CB có chuyên môn nghiệp vụ thường được hình thành thông qua con đường đào tạo từ nhà trường. Với nghĩa thứ hai, CB là những người có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức; là đội ngũ CB lãnh đạo, quản lý, những người có chức vụ, phân biệt 11 với người không có chức vụ. Bộ phận CB này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ hoặc được đề bạt, bổ nhiệm.
Theo Luật cán bộ, công chức thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010, thì khái niệm CB: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Kế thừa những yếu tố hợp lý của các định nghĩa nêu trên, trong luận án, cán bộ được hiểu là những người làm việc và đảm nhiệm một chức năng nào đó trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Khái niệm công chức: Công chức là một thuật ngữ được dùng từ rất sớm trong quản lý nhà nước ở nước ta, chỉ những người được các cơ quan nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan nhà nước và hưởng lương từ ngân sách.