Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty TNHH MTV X20 Thanh Hóa Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường Mỹ của Công ty TNHH MTV X20 Thanh Hóa 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Một số khái niệm ❖ Khái niệm về xuất khẩu Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 28 Luật Thương mại (2005): “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Có thể hiểu một cách đơn giản, Xuất khẩu là việc bán hàng hóa hoặc dịch vụ của một quốc gia sang một hoặc nhiều quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán, tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước giao dịch hoặc của nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế). ❖ Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực từ kinh tế, thương mại, luật đến chính trị, quân sự.
Do vậy mà có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ “cạnh tranh”. Cụ thể: Theo quan điểm cạnh tranh cổ điển, Các Mác cho rằng: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.” Theo nhà kinh tế học người Mỹ Michael Porter: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức độ lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.” Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.” Qua một vài quan điểm trên mà ta có thể hiểu một cách cụ thể về khái niệm cạnh tranh: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau 7 tìm mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
❖ Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, hoạt động xuất khẩu diễn ra mạnh mẽ, bởi vậy mà hoạt động xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài của các doanh nghiệp chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ. Năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa chính là yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp xuất khẩu có thể đứng vững trong nền kinh tế quốc tế hiện nay. Từ trước đến nay chưa có nhiều khái niệm diễn tả năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa. Chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa đó là sự vượt trội của hàng hóa của một quốc gia so với hàng hóa cùng loại của các quốc gia khác về chất lượng và giá cả, với cùng điều kiện đáp ứng được yêu cầu của thị trường nhập khẩu trong cùng một thời điểm.
Tuy nhiên, ngày nay vấn đề cạnh tranh không chỉ còn là việc so sánh giữa giá cả và chất lượng mà còn nhiều yếu tố khác như thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, sự độc đáo của sản phẩm, sự khác biệt của sản phẩm.Nếu hàng hóa chỉ có giá rẻ hơn hoặc chất lượng hơn chưa chắc đã thuyết phục người tiêu dùng chọn mua. Với cách nhìn nhận như trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa là sự vượt trội cả về định tính gồm: chất lượng, thương hiệu, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm. và định lượng gồm: giá bán, thị phần, sản lượng, doanh thu.của một sản phẩm xuất khẩu của một doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh ở thị trường nước ngoài tại cùng một thời điểm. Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp Hội nhập sâu rộng giúp các doanh nghiệp có nhiều cơ hội mở rộng kinh doanh, quảng bá và thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang nước ngoài đồng thời tiếp cận nhiều thị trường quốc tế tiềm năng.
Mặt khác, điều này cũng gia tăng sự cạnh tranh các đối thủ trong ngành không chỉ trong nước mà còn ở nước ngoài. Chính vì vậy, doanh nghiệp luôn nỗ lực để nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của mình. 8 Thứ nhất, nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm sẽ khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại đồng thời sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnh tranh cao. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế trong nước và thâm nhập vào các thị trường nước ngoài tốt hơn.
Thứ hai, khi các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh với nhau, người tiêu dùng sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn về giá cả và chất lượng thông qua việc so sánh các sản phẩm, hàng hóa với nhau. Đồng thời, các sản phẩm cũng có chất lượng tốt hơn, mẫu mã đa dạng, phong phú hơn sẽ thỏa mãn được nhu cầu của các phân khúc người tiêu dùng khác nhau. Thứ ba, bên cạnh mang lại lợi ích cho bản thân doanh nghiệp và người tiêu dùng, việc nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu cũng giúp các đối thủ trong ngành tìm hiểu những chiến lược hiệu quả cũng như tận dụng nguồn lực tối ưu để gia tăng lợi thế cạnh tranh, từ đó thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. Mặt khác, trong những năm qua, xuất khẩu đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đổi mới của nước ta, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống thu nhập cho người dân.
Nói cách khác, khi mỗi doanh nghiệp gia tăng cạnh tranh theo hướng tích cực sẽ trực tiếp làm tăng giá trị sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất trong nước để đáp ứng theo tiêu chuẩn nước nhận xuất khẩu. Một số tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa của doanh nghiệp 2. Các tiêu chí định lượng ❖ Chi phí sản xuất Chi phí là số tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra khi tiến hành hoạt động kinh doanh, bởi vậy mà nó được coi là một chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp. Xét một cách tổng thể chi phí thấp sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm giá bán → tăng số lượng bán ra → tăng lợi nhuận → tăng khả năng cạnh tranh.
Ngược lại chi phí cao sẽ dẫn đến giá thành cao, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kém so với đối thủ có chi phí thấp. Để sử dụng chi phí có hiệu quả doanh nghiệp cần đưa ra được định mức chi phí cho từng công việc và giảm bớt chi phí không cần thiết. Xét về tỷ suất chi phí: khi tỷ suất chi phí cao có nghĩa là để có một đồng lợi nhuận 9 doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều đồng chi phí, tức là doanh nghiệp đã chưa phát huy được lợi thế cạnh tranh bằng chi phí. Do vậy, doanh nghiệp cần phải có kế hoạch trong việc sử dụng mức chi phí nào cho hoạt động nào để đảm bảo tỷ suất chi phí giảm dần qua các năm, có ý nghĩa là tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ tăng của chi phí.
Các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất như: chi phí nguyên liệu đầu vào, chi phí nhân công và chi phí đầu tư cho thiết bị máy móc, chi phí vận chuyển, … ❖ Thị phần Thị phần của doanh nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh. Ta có thể hiểu một cách đơn giản, thị phần là tỉ lệ phần trăm tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp so với tổng sản phẩm hoặc dịch vụ cùng loại được tiêu thụ trên toàn thị trường. Doanh nghiệp nào có thị phần cao sẽ có mức doanh thu cao, nhiều lợi thế cạnh tranh và là rào cản gia nhập mạnh mẽ đối với các đối thủ khác. Thị phần càng lớn càng chứng tỏ sản phẩm của doanh nghiệp được khách hàng, người tiêu dùng ưa chuộng, năng lực cạnh tranh cao nên doanh nghiệp hoàn toàn có thể chiếm lĩnh thị trường.
Để phát triển thị phần, ngoài chất lượng, giá cả, doanh nghiệp phải tiến hành công tác xúc tiến thương mại, tổ chức các dịch vụ đi kèm, cung cấp sản phẩm kịp thời, thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp. Như vậy, ta thấy rằng thị phần là một tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ta có thể đánh giá thị phần của một doanh nghiệp như sau: - Thị phần của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường: Đó là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị sản phẩm của doanh nghiệp bán ra so với với giá trị của toàn ngành.