Mức Độ Truyền Dẫn Của Tỷ Giá Vào Chỉ Số Giá Tiêu Dùng Việt Nam Giai Đoạn 2000-2011

Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của tỷ giá đến chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam giai đoạn 2000-2011, cung cấp cái nhìn sâu sắc về kinh tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2012

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN

1.1. Mối quan hệ giữa giá cả hàng hóa nhập khẩu và tỷ giá hối đoái

1.2. Mô hình luật một giá (LOP)

1.3. Các tranh luận về tính hiệu lực của LOP trong việc giải thích sự biến động của tỷ giá và giá cả hàng hóa nhập khẩu

1.4. Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào giá cả hàng hóa

1.5. Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

1.6. Các nghiên cứu liên quan về truyền dẫn của tỷ giá

1.6.1. Các nghiên cứu trên thế giới

1.6.2. Các nghiên cứu về mức độ truyền dẫn của tỷ giá ở Việt Nam

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ lớn của mức độ truyền dẫn (ERPT)

1.7.1. Môi trường lạm phát của nền kinh tế

1.7.2. Mức độ biến động của tỷ giá hối đoái

1.7.3. Mức độ đô la hóa của nền kinh tế

1.7.4. Mức độ mở cửa của nền kinh tế

1.7.5. Độ chênh sản lượng (output gap)

1.7.6. Thành phần hàng hóa nhập khẩu

1.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (ERPT) VÀO CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG VIỆT NAM (CPI) – XÁC ĐỊNH XU HƯỚNG BIẾN ĐỘNG CỦA ERPT

2.1. Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2011

2.2. Mô hình nghiên cứu

2.3. Dữ liệu nghiên cứu

2.4. Các bước thực hiện trong quá trình chạy mô hình

2.5. Kiểm định nghiệm đơn vị

2.6. Chọn bước trễ tối ưu cho các biến trong mô hình

2.7. Kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johasen

2.8. Đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng trong dài hạn bằng mô hình VECM

2.9. Mức độ truyền dẫn trong ngắn hạn: mô hình hiệu chỉnh sai số ECM

2.10. Xu hướng biến động của mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong giai đoạn Q1 2000 đến Q2 2011

2.11. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ VĨ MÔ VÀO MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI (ERPT) TẠI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2000 - 2011

3.1. Mô hình nghiên cứu

3.2. Dữ liệu và các bước thực hiện

3.3. Kiểm định nghiệm đơn vị

3.4. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô đối với ERPT

3.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mức Độ Truyền Dẫn Của Tỷ Giá Vào Chỉ Số Giá Tiêu Dùng

Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là một chủ đề quan trọng trong kinh tế học. Nghiên cứu này tập trung vào giai đoạn từ 2000 đến 2011, khi mà nền kinh tế Việt Nam trải qua nhiều biến động lớn. Việc hiểu rõ mối quan hệ này không chỉ giúp các nhà hoạch định chính sách mà còn cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp. Mục tiêu chính là xác định mức độ ảnh hưởng của tỷ giá đến CPI và các yếu tố tác động đến mối quan hệ này.

1.1. Khái Niệm Mức Độ Truyền Dẫn Của Tỷ Giá

Mức độ truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) là tỷ lệ phần trăm thay đổi của giá hàng hóa khi tỷ giá hối đoái thay đổi. Nghiên cứu này sẽ phân tích cách mà tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa nhập khẩu và từ đó tác động đến CPI.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa tỷ giá và CPI. Điều này giúp các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra các quyết định hợp lý nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế.

II. Vấn Đề Lạm Phát Và Tác Động Của Tỷ Giá Đến Chỉ Số Giá Tiêu Dùng

Lạm phát là một trong những vấn đề lớn mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong giai đoạn 2000-2011. Tỷ lệ lạm phát cao đã ảnh hưởng đến đời sống của người dân và sự phát triển kinh tế. Nghiên cứu này sẽ phân tích mối liên hệ giữa tỷ giá và lạm phát, từ đó đưa ra những nhận định về tác động của tỷ giá đến CPI.

2.1. Tình Hình Lạm Phát Tại Việt Nam 2000 2011

Trong giai đoạn này, lạm phát tại Việt Nam đã có những biến động mạnh mẽ, đặc biệt là vào năm 2008 khi tỷ lệ lạm phát đạt 24%. Điều này đã tạo ra áp lực lớn lên nền kinh tế và đời sống người dân.

2.2. Mối Quan Hệ Giữa Tỷ Giá Và Lạm Phát

Nghiên cứu sẽ chỉ ra rằng sự biến động của tỷ giá hối đoái có thể dẫn đến sự thay đổi trong giá cả hàng hóa, từ đó ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng. Mối quan hệ này cần được phân tích kỹ lưỡng để hiểu rõ hơn về cơ chế tác động.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Mức Độ Truyền Dẫn Của Tỷ Giá

Để đo lường mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào CPI, nghiên cứu này sử dụng các phương pháp phân tích kinh tế lượng hiện đại. Các mô hình như VECM và ECM sẽ được áp dụng để xác định mối quan hệ giữa các biến số trong nghiên cứu.

3.1. Mô Hình VECM Trong Nghiên Cứu

Mô hình VECM (Vector Error Correction Model) sẽ được sử dụng để phân tích mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá và CPI. Mô hình này cho phép xác định mức độ ảnh hưởng của tỷ giá đến CPI trong dài hạn.

3.2. Mô Hình ECM Đo Lường Tác Động Ngắn Hạn

Mô hình ECM (Error Correction Model) sẽ được áp dụng để đo lường tác động ngắn hạn của tỷ giá đến CPI. Mô hình này giúp hiểu rõ hơn về sự điều chỉnh giá cả trong ngắn hạn khi có biến động tỷ giá.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Mức Độ Truyền Dẫn Của Tỷ Giá

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào CPI có sự biến động qua các năm. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đáng kể đến chỉ số giá tiêu dùng, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát cao.

4.1. Xu Hướng Biến Động Của Mức Độ Truyền Dẫn

Mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào CPI đã có xu hướng tăng dần trong giai đoạn 2000-2011. Điều này cho thấy sự nhạy cảm của CPI đối với biến động tỷ giá hối đoái.

4.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Mức Độ Truyền Dẫn

Nghiên cứu cũng đã xác định được các yếu tố vĩ mô như lạm phát, mức độ đô la hóa và độ mở của nền kinh tế có tác động lớn đến mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào CPI.

V. Kết Luận Về Mức Độ Truyền Dẫn Của Tỷ Giá

Nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn sâu sắc về mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2011. Kết quả cho thấy tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng lớn đến CPI, đặc biệt trong bối cảnh lạm phát cao.

5.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái có tác động đáng kể đến chỉ số giá tiêu dùng, với mức độ truyền dẫn tăng dần qua các năm.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Để Kiểm Soát Lạm Phát

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách cần có các biện pháp kiểm soát tỷ giá và lạm phát để ổn định nền kinh tế và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào chỉ số giá tiêu dùng việt nam giai đoạn 2000 2011

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ SỰ TRUYỀN DẪN CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ TRUYỀN DẪN 1.1 Mối quan hệ giữa giá cả hàng hóa nhập khẩu và tỷ giá hối đoái 1.1 Mô hình luật một giá (LOP): Theo Luật một giá (LOP), các hàng hóa giống nhau được bán cùng một mức giá ở các quốc gia khác nhau khi tính chung một đồng tiền. Gọi p là giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia H, p* đại diện cho giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia F và E là tỷ giá hối đoái của đồng tiền của quốc H so với đồng tiền của quốc gia F. Nếu luật một giá là đúng với hàng hóa i thì giá của hàng hóa i là: pi = E (1) Nếu LOP đúng với tất cả các loại hàng hóa ở tất cả các quốc gia thì lý thuyết hiệu ứng ngang giá sức mua trong điều kiện tuyệt đối tồn tại và được thể hiện như sau: P = EP* (1’) Với P và P* là mức giá ở hai quốc gia H và F Theo Goldberg (1997), ta có phương trình hồi qui sau: pt = α + δXt + γEt + µZt + εt (2) Trong đó, tất cả các biến đều dưới dạng logarit, p là giá của một hàng hóa nhập khẩu cụ thể, X là biến kiểm soát đại diện cho phí sản xuất hoặc giá cả hàng hóa, E là tỷ giá hối đoái, Z đại diện cho một biến kiểm soát khác ảnh hưởng đến giá nhập khẩu trong mô hình, ε là sai số của mô hình. Goldberg (1997) nghiên cứu về sự biến động của giá cả hàng hóa và tỷ giá phải phù hợp với sự thay đổi của X, E và Z.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Goldberg (1997) cho rằng, nếu luật một giá (LOP) được thể hiện như phương trình (1) là đúng tức giá cả những hàng hóa giống nhau sẽ có giá bán như nhau khi qui về một đồng tiền chung thì LOP sẽ đưa ra những dự đoán cho giá cả hàng hóa và tỷ giá trong phương trình (2) như sau: Nếu giá hàng hóa được đo lường trong những đơn vị tiền tệ khác nhau thì luật một giá LOP chỉ ra rằng α = 0, δ = 1, γ = 1. Nếu giá cả được đo lường cùng một đơn vị tiền tệ thì theo LOP ta có α = 0, δ = 1, γ = 0. Điều này ngụ ý rằng, theo luật một giá, giá cả của hàng hóa nhập khẩu chỉ phụ thuộc vào tỷ giá và giá cả sản xuất hàng hóa tính theo đồng tiền của quốc gia xuất khẩu. Khi tỷ giá thay đổi tăng lên (hoặc giảm xuống) thì giá cả hàng hóa tính theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu sẽ tăng lên hoặc giảm xuống một khoảng tương ứng và gần như ngay tức khắc.2 Các tranh luận về tính hiệu lực của LOP trong việc giải thích sự biến động của tỷ giá và giá cả hàng hóa nhập khẩu Có rất nhiều nhà nghiên cứu không đồng ý với luật một giá (LOP) trong việc giải thích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá cả hàng hóa nhập khẩu.

Họ cho rằng giá cả của hàng hóa nhập khẩu có thể sẽ không thay đổi một khoảng tương ứng với sự thay đổi của tỷ giá hối đoái. Các nhà kinh tế thế giới đã đưa ra rất nhiều lý do để giải thích cho lập luận này, trong đó có một vài lý do tiêu biểu đã được Ihrig và cộng sự (2006) tổng hợp lại như sau: - Các nhà xuất khẩu sẽ định giá hàng hóa khác nhau trong các phân khúc thị trường khác nhau: trong một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, các công ty đưa ra các mức giá khác nhau đối với cùng một hàng hóa ở các phân khúc thị trường khác nhau để cạnh tranh với các đối thủ cạnh tranh ở các quốc gia nhập khẩu. Với cách định giá này, khi xảy ra các cú sốc về tỷ giá, các công ty sẽ dễ dàng điều chỉnh lợi nhuận mà không cần phải thay đổi giá cả hàng hóa. Do đó, khi tỷ giá thay đổi thì giá hàng hóa nhập khẩu chưa chắc sẽ thay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đổi hoặc sẽ thay đổi ít hơn một khoảng tương ứng với mức độ thay đổi của tỷ giá.

- Các công ty xuất khẩu định giá hàng hóa theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu: khi các công ty xuất khẩu vào quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoái ít biến động, chính sách tiền tệ ổn định, các công ty này sẽ thiết lập giá hàng hóa của nó theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu. Vì vậy khi xảy ra một cú sốc về tỷ giá, các công ty xuất khẩu sẽ cho rằng sự thay đổi tỷ giá này chỉ là tạm thời và sẽ không điều chỉnh giá hàng hóa theo sự thay đổi của tỷ giá. - Chi phí phân phối và giao dịch cũng ảnh hưởng đến sự thay đổi của giá hàng hóa nhập khẩu. Trong một nền kinh tế toàn cầu hóa, chi phí phân phối và chi phí giao dịch thấp.

Vì vậy, khi tỷ giá thay đổi, các công ty xuất khẩu dễ dàng điều chỉnh lợi nhuận mà không cần tăng giá hàng hóa. - Hàng hóa nhập khẩu được chia thành nhiều công đoạn sản xuất ở các quốc gia khác nhau, khi đó chi phí của sản phẩm cuối cùng được quy đổi từ nhiều đồng tiền khác nhau. Vì vậy giá cả của hàng hóa tính theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu sẽ ít biến động miễn là tất cả các đồng tiền của các quốc gia sản xuất không đồng thời bị định giá cao so với đồng tiền quốc gia nhập khẩu. - Các biện pháp bảo hộ tỷ giá, giữ cho tỷ giá ít biến động sẽ làm cho giá hàng hóa nhập khẩu ít biến động.

Tất nhiên, các biện pháp bảo hộ này chỉ là tạm thời, nếu trong dài hạn biến động tỷ giá là thường xuyên thì chắc chắn sẽ có một sự điều chỉnh lớn sau đó. Nhiều nghiên cứu thống nhất rằng, các biện pháp bảo hộ giữ cho tỷ giá không biến động có thể làm cho giá hàng hóa nhập khẩu không biến động ít nhất là một năm.3 Mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào giá cả hàng hóa Vì có những hoài nghi về tính hợp lý của luật một giá (LOP) trong việc giải thích mối quan hệ giữa giá cả hàng hóa nhập khẩu và tỷ giá hối đoái vì những lý do nêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 trên nên theo Goldberg (1997), vào những năm 70 của thế kỷ 20, những công ty xuất khẩu thường đặt ra câu hỏi: liệu giá xuất khẩu có thật sự không đổi mặc dù đồng tiền bị phá giá? Hay từ quan điểm của những nhà nhập khẩu nhập khẩu: liệu ảnh hưởng của việc phá giá có được truyền dẫn (pass through) một cách hoàn toàn vào giá nhập khẩu tính theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu không? Từ đây, đã hình thành nên định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái (ERPT) như sau: truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) là phần trăm thay đổi giá cả hàng hóa nhập khẩu tính theo đồng tiền của quốc gia nhập khẩu từ việc thay đổi một phần trăm của tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của quốc gia nhập khẩu và đồng tiền của quốc gia xuất khẩu. Theo Goldberg (1997), nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá (ERPT) vào giá hàng hóa là tập trung vào việc xem xét sự thay đổi của giá cả hàng hóa đối với sự thay đổi của tỷ giá trong các giao dịch giữa quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu. Theo phương trình (2), p là giá tính theo đồng tiền quốc gia nhập khẩu, X là một đại lượng đại diện cho chi phí sản xuất hàng hóa tính theo đồng tiền của quốc gia xuất khẩu, Z đại diện cho nhu cầu của quốc gia nhập khẩu như: mức giá cạnh tranh hoặc thu nhập, E là tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của quốc gia nhập khẩu đối với đồng tiền của quốc gia xuất khẩu.

Hệ số γ là mức độ truyền dẫn (hay độ lớn của ERPT). Nếu sự truyền dẫn của tỷ giá hối đoái (ERPT) vào giá hàng hóa nhập khẩu là hoàn toàn thì γ = 1 tức 1% thay đổi của tỷ giá hối đoái E thì giá nhập khẩu p cũng sẽ thay đổi 1%; ngược lại nếu γ < 1 thì sự truyền dẫn của tỷ giá (ERPT) vào giá hàng hóa nhập khẩu là không hoàn toàn tức khi tỷ giá hối đoái E thay đổi 1% nhưng không làm cho giá nhập khẩu thay đổi một khoảng tương ứng 1%.4 Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Theo Bailliu và Bouakez (2004), cơ chế truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) gồm 02 bước: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Thứ nhất, sự thay đổi của tỷ giá sẽ được truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu, mức độ và tốc độ của truyền dẫn vào chỉ số giá nhập khẩu phụ thuộc vào một vài yếu tố: kỳ vọng về thời điểm phá giá, chi phí của việc điều chỉnh giá và nhu cầu hàng nhập khẩu… - Thứ hai, sự thay đổi của chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Mức độ chỉ số giá tiêu dùng bị ảnh hưởng phụ thuộc vào tỷ lệ của các hàng hóa nhập khẩu này trong rổ hàng hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng CPI, ngoài ra, mức độ truyền dẫn vào chỉ số giá tiêu dùng phụ thuộc vào các yếu tố: sự phá giá đồng nội tệ sẽ làm cho giá hàng hóa nhập khẩu cao, từ đó làm gia tăng nhu cầu hàng hóa nội địa. Điều này sẽ tạo sức ép tăng giá hàng hóa nội địa và tăng lương, nếu giá cả hàng hóa và lương tăng sẽ tiếp tục tạo sức ép lên chỉ số giá tiêu dùng trong nước.

Theo Bạch Thị Phương Thảo (2011), sự ảnh hưởng của chỉ số giá nhập khẩu vào chỉ số giá tiêu dùng theo 01 trong 02 cách sau:  Nếu hàng hóa nhập khẩu được dùng cho mục đích tiêu dùng cuối cùng, chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng.  Nếu hàng hóa nhập khẩu là nguyên nhiên phụ liệu được dùng cho quá trình sản xuất thì chỉ số giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng đến chỉ số giá sản xuất và thông qua đó ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng.5 Các nghiên cứu liên quan về truyền dẫn của tỷ giá 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ