CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI TRONG TỐ TỤNG TRỌNG TÀI 1. Một số vấn đề khái quát về trọng tài thương mại và thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại 1. Khái quát về phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại Trọng tài thương mại được từ điển Luật học Anh - Mỹ của Black đề cập như là một trong những “phương thức giải quyết tranh chấp thay thế” (Alternative Dispute Resolution - ADR).2 Phương thức giải quyết tranh chấp thay thế là bất kỳ những thủ tục nào, bao gồm trọng tài, hòa giải, đàm phán và một số phương thức khác mà theo đó, các bên tranh chấp đồng ý áp dụng thông qua dịch vụ hỗ trợ của một bên trung lập để đạt được thỏa thuận và tránh kiện tụng tại Tòa án.3 Theo đó, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp mang tính tư nhân, dựa trên thỏa thuận của các cá nhân, pháp nhân và thậm chí là các quốc gia nhằm giải quyết xung đột trong quá trình hoạt động giao thương của mình thông qua một bên thứ ba. Bên cạnh trọng tài thương mại, hòa giải cũng là một phương thức ADR có bên thứ ba tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp, dù vậy, thủ tục của hai phương thức này cũng có những điểm khác biệt cơ bản.
Nếu như trong hòa giải, các bên tranh chấp đưa ra quan điểm và cùng nhau tìm ra phương hướng giải quyết một cách tự nguyện, đồng thuận dưới sự hỗ trợ, giúp đỡ của bên thứ ba thì trong tố tụng trọng tài, họ không được đóng góp nguyện vọng, ý kiến của mình trong việc đưa ra quyết định cuối cùng để giải quyết vụ việc.4 Phán quyết trọng tài được đưa ra mang 2 Chickasaw Nation Library (2020), Alternative Dispute Resolution, <https://libguides.edu/ADR> truy cập ngày 15/10/2021 3 U. Department of Labor, Alternative Dispute Resolution <https://www.gov/general/topic/labor-relations/adr> truy cập ngày 20/10/2021 4 Đặng Minh Phương (2014), Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.15 11 tính ràng buộc, không phụ thuộc vào ý chí của các bên mà dựa theo phân xử của trọng tài, thậm chí không bị Tòa án quốc gia xem xét lại. Sự ra đời của hàng loạt các hiệp định, công ước quốc tế đã đánh dấu nhiều cột mốc quan trọng cho thấy trọng tài thương mại được chấp nhận rộng rãi và trở thành phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến trên thế giới. Các điều ước quốc tế quan trọng có thể kể đến bao gồm Công ước New York năm 1958 và Luật mẫu UNCITRAL năm 1985.
Công ước được xem như công cụ trụ cột của trọng tài thương mại để phán quyết trọng tài được công nhận và thi hành ở phạm vi quốc tế, trong khi đó, Luật mẫu với vai trò là luật điều chỉnh tố tụng trọng tài quốc tế đã trở thành hình mẫu để các quốc gia trên thế giới xây dựng hệ thống pháp luật trọng tài quốc gia phù hợp, hiệu quả. Tại Việt Nam, Luật Trọng tài thương mại 2010 (“LTTTM”) quy định trọng tài là “phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”.5 Như vậy, yếu tố quan trọng nhất để dẫn đến tố tụng trọng tài thương mại theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam chính là tồn tại một thỏa thuận giữa các bên tranh chấp. Nếu như kiện tụng qua con đường tòa án là mặc định theo pháp luật quốc gia thì trọng tài thương mại là một phương thức thay thế cho tòa án, muốn được áp dụng phải có sự đồng ý của các bên. Luật Thương mại 2005 không đề cập đến phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, tuy nhiên, Điều 317 đã thể hiện rõ trọng tài là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án.
Theo đó, các hình thức giải quyết tranh chấp trong hoạt động thương mại bao gồm: (1) thương lượng giữa các bên; (2) hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải; (3) giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án. Hiện nay, Nghị định 22/2017/NĐ-CP về Hòa giải thương mại điều chỉnh các thủ tục trong hòa giải khá rõ ràng và cụ thể, tuy nhiên phương thức này rất ít khi được lựa chọn bởi hiệu quả không cao. Tranh chấp phát sinh, để tìm được tiếng nói chung về lợi ích của các bên thông qua hòa giải là một điều khá khó khăn và bất khả thi, trong khi đó nếu 5 Khoản 2 Điều 3 LTTTM 12 tìm đến trọng tài thương mại, tranh chấp có thể được giải quyết bằng một phán quyết chung thẩm có khả năng thực thi trên thực tế. Trọng tài quy chế (trọng tài thường trực), cùng với trọng tài vụ việc (trọng tài ad hoc) là hai hình thức trọng tài thương mại cơ bản tồn tại.
Trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được tổ chức chặt chẽ, có bộ máy, trụ sở làm việc thường xuyên, thường có danh sách trọng tài viên hoạt động theo điều lệ và quy tắc tố tụng riêng. Trong khi đó, trọng tài vụ việc là một hình thức trọng tài không liên quan tới một trung tâm trọng tài, tồn tại khi tranh chấp phát sinh dựa vào thỏa thuận của các bên và chấm dứt khi vụ việc đã được giải quyết xong. Các bên tranh chấp có thể thỏa thuận xây dựng quy tắc tố tụng của riêng mình hoặc lựa chọn một quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài. So với tố tụng tại tòa, tố tụng trọng tài được xem là có nhiều ưu điểm trong giải quyết tranh chấp thương mại.
Với thủ tục đơn giản, linh hoạt hơn, thời gian giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được rút ngắn đáng kể. Cùng với đó, các bên cũng được quyền lựa chọn trọng tài viên có năng lực, kinh nghiệm phù hợp với vấn đề tranh chấp, nhờ vậy mà tranh chấp được giải quyết nhanh chóng, chính xác.6 Ngoài ra, tranh chấp bằng trọng tài giải quyết theo nguyên tắc không công khai, do đó được xem là giải pháp tối ưu giúp doanh nghiệp giữ bí mật được các thông tin tranh chấp mà có thể gây ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Phán quyết của trọng tài là quyết định mang tính chung thẩm, nếu sau đó Hội đồng muốn đưa ra một kết luận khác, quyết định này cũng không thể được xem xét lại hoặc sửa đổi và các bên không thể kháng cáo, kiến nghị.7 Vì những ưu điểm kể trên, trọng tài thương mại đang dần được lựa chọn như là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp thay thế Tòa án tối ưu nhất. 6 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương (2013), Đặc san tuyên truyền pháp luật số 07/2013, Trọng tài thương mại và pháp luật về trọng tài thương mại 7 ICCA (2016),tlđd (1), tr.
Thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại Trong khoa học pháp lý, “thẩm quyền” được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước do pháp luật quy định.8 Tuy vậy, không giống với Tòa án, HĐTT không phải là một cơ quan tài phán được nhà nước trao quyền xét xử tranh chấp và có thẩm quyền phụ thuộc hoàn toàn vào quy định của pháp luật. Thẩm quyền của HĐTT là do các bên trong tranh chấp trao cho, chịu sự điều chỉnh của pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài, pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp và luật nơi công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài thi hành.9 Cần phân biệt thẩm quyền của HĐTT với “thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài”. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài đề cập đến lĩnh vực, phạm vi tranh chấp mà trọng tài có quyền phân xử theo Điều 2 LTTTM, trong khi đó thẩm quyền của HĐTT lại đề cập đến quyền hạn của bộ phận chuyên trách giải quyết tranh chấp. Nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thì thẩm quyền của HĐTT mới phát sinh.
Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài, không phải bất cứ lúc nào các bên thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài thì vụ việc cũng sẽ được giải quyết mà nó phải là tranh chấp thương mại. LTTTM quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài bao gồm: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, (ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại, (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.10 Nếu tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại thì nó sẽ được giải quyết thông qua con đường tòa án hoặc những phương thức khác theo quy định của pháp luật. Mặc dù cả tòa án và trọng tài đều có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật, nhưng do không phải 8 Hocluat.vn, Thẩm quyền là gì?, <https://hocluat.vn/wiki/tham-quyen/>, truy cập ngày 20/3/2022 9 Đặng Minh Phương, ttđd (4), tr.25 10 Điều 2 LTTTM 14 là một cơ quan nhà nước như tòa án nên trọng tài không thể được trao quyền toàn bộ đối với tất cả các tranh chấp.11 Về thẩm quyền của HĐTT, LTTTM quy định quyền hạn của HĐTT tương đối rộng và xuyên suốt quá trình tố tụng bao gồm: trước khi diễn ra phiên họp, trong phiên họp và khi ra phán quyết. Thẩm quyền trước tiên và quan trọng nhất chính là xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài và thẩm quyền của HĐTT.
Có thể nói, đây là quyền hạn cơ bản nhất vì nó giúp HĐTT tiến hành nhiệm vụ của mình một cách đúng đắn. Một HĐTT phải có khả năng xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài bởi đó chính là cơ sở để xác định vụ tranh chấp có thuộc thẩm quyền giải quyết của HĐTT hay không. Nếu xác định vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết, HĐTT sẽ tiếp tục các bước tiếp theo trong quy trình tố tụng, mặt khác, nếu thỏa thuận trọng tài không hợp pháp, vô hiệu hoặc không thể thực hiện được thì việc giải quyết sẽ bị đình chỉ.12 LTTTM cũng quy định HĐTT được quyền xác minh sự việc, thu thập chứng cứ và áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi đương sự nộp đơn yêu cầu. Ngoài ra, một phiên họp giải quyết vụ tranh chấp có thời gian và địa điểm khá linh hoạt, không cố định tại phòng xử của một Tòa án cụ thể mà do các bên tự thỏa thuận,13 nếu các bên không thỏa thuận thì việc quyết định thuộc về HĐTT.