Chương 1: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh giữa các bên trong một giao dịch thương mại”. Tìm hiểu thêm các quy định tại chương II, chương III và chương IV, có thể khái quát tranh chấp trong thương mại theo Hiệp định như sau: Tranh chấp bao gồm tất cả những bất đồng phát sinh từ các hoạt động thương mại (thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan tới đầu tư, thương mại liên quan tới sở hữu trí tuệ), những khiếu nại, khiếu kiện về các hành vi xâm phạm các quyền tự do thương mại, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ được các bên bảo hộ theo Hiệp định. Mặc dù thuật ngữ TCTM có thể được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau, rộng hay hẹp, song điểm chung dễ nhận thấy là hầu hết các quan điểm đều coi tranh chấp trong hoạt động thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia vào các giao dịch thương mại. Như vậy, từ những định nghĩa trên có thể định nghĩa tranh chấp trong kinh doanh thương mại là sự mâu thuẫn, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên khi tham gia hoạt động kinh doanh, thương mại.
Đặc điểm của tranh chấp phát sinh trong kinh doanh thƣơng mại Đặc điểm của TCTM thể hiện ở chủ thể, mục đích và nội dung của tranh chấp. Về chủ thể, TCTM chủ yếu là tranh chấp giữa các thương nhân có liên quan đến việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động thương mại hoặc 12 giữa thương nhân với các chủ thể khác có nhu cầu giao dịch, mua bán hàng hóa. Bởi hoạt động thương mại là hoạt động của các thương nhân hoặc giữa thương nhân với các chủ thể khác. Trong đó thương nhân được xem là các chủ thể hoạt động một cách thường xuyên trong các hoạt động có liên quan đến thương mại.
Các chủ thể khác được xem là các chủ thể hoạt động không thường xuyên đó là tất cả các chủ thể của luật dân sự khi tham gia vào hoạt động thương mại như theo quy định của pháp luật Liên bang Đức tại Điều 43 Bộ luật Thương mại Đức hiện hành coi hành vi của thương nhân gắn liền với việc tiến hành hoạt động kinh doanh thương mại của mình 8. Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật Thương mại năm 2005, phạm vi điều chỉnh của Luật này áp dụng đối với cả hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này. Do vậy, ngoài thương nhân thì trong những trường hợp nhất định, các cá nhân, tổ chức khác không phải thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại khi trong giao dịch các bên không có mục đích sinh lợi chọn áp dụng Luật Thương mại. Như vậy, không phải trường hợp TCTM nào cũng có chủ thể tham gia là thương nhân.
Về mục đích, các bên tranh chấp phần lớn đều có mục đích lợi nhuận. Đặc điểm nổi bật nhất của hoạt động thương mại theo quy định của Luật Thương mại năm 2005 là “mục đích sinh lợi”. Bộ luật Thương mại số 48 của Nhật Bản năm 1899 quy định thuật ngữ “thương mại” được dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đích sinh lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt ủy thác, bảo hiểm, ngân hàng9. Chính vì vậy, điểm đặc thù của TCTM là tranh chấp vì mục đích sinh lợi.
Mục đích sinh lợi được ghi nhận bằng lợi nhuận của các bên có thể đạt được khi thực hiện hoạt động thương mại không chỉ về vật chất, tài sản mà còn bao gồm những lợi ích khác như uy tín, thương hiệu hay niềm tin của khách hàng. Về nội dung của tranh chấp, đó là những xung đột, mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phải phát sinh từ hoạt động thương mại. Căn cứ phát sinh TCTM là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật, xâm hại lợi ích của 8 Phạm Hải Vân (2017), Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr8-9. 9 Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2012), Luật áp dụng trong trọng tài thương mại quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
Trong hoạt động thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được mục đích đề ra. Do đó, việc phát sinh các mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu. Các tranh chấp phát sinh do nhiều nguyên nhân như sự khác biệt về ngôn ngữ, pháp luật, tập quán,… Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản nên nội dung tranh chấp thường liên quan trực tiếp tới lợi ích kinh tế của các bên phát sinh trong mối quan hệ cụ thể. Phân loại tranh chấp phát sinh trong kinh doanh, thƣơng mại Hoạt động kinh doanh, thương mại luôn tồn tại hoặc phát sinh những tranh chấp như là một tất yếu khách quan.
Quan hệ kinh doanh, thương mại càng đa dạng, phức tạp thì khả năng phát sinh tranh chấp, xung đột càng lớn. Khi tranh chấp trong kinh doanh thương mại phát sinh đòi hỏi cần phải được giải quyết một cách minh bạch, triệt để và hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần dự báo, ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội. Phân loại TCTM là cơ sở để đơn giản hóa và phân biệt những nhóm, những đối tượng có đặc điểm tương tự nhau từ đó các bên có thể dễ dàng lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp một cách hợp lý. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể nào chỉ rõ có tất cả bao nhiêu loại TCTM, cũng như nêu ra các căn cứ nhằm phân loại các TCTM.
Mỗi loại TCTM đều có những đặc điểm, tính chất riêng, có sự liên quan về tư cách pháp lý của chủ thể tham gia, quyền và nghĩa vụ cũng như quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại,… dựa vào các quy định pháp luật có liên quan cũng như lĩnh vực, tính chất của hoạt động thương mại, có thể chia các TCTM dựa trên các tiêu chí sau: Thứ nhất, căn cứ theo phạm vi lãnh thổ, TCTM bao gồm tranh chấp thương mại trong nước và tranh chấp thương mại quốc tế. Trong đó tranh chấp thương mại quốc tế là những tranh chấp có yếu tố nước ngoài (chủ thể ở nước ngoài; khách thể ở nước ngoài; sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài). Theo thống kê hoạt động giải quyết tranh chấp tại VIAC, trong giai đoạn 1993 – 2022, số vụ tranh chấp trong nước VIAC thụ lý là 39,99% và nước ngoài là 60,01% (bao gồm cả các vụ có ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) 10. Phần lớn các vụ tranh chấp kinh doanh thương mại có ít nhất một bên chủ thể nước 10 Thống kê hoạt động giải quyết tranh chấp năm 2022.
Truy cập ngày 01/11/2013 từ http://www.vn/thong-ke/thong-ke-hoat-dong-giai-quyet-tranh-chap-nam-2022-s40. 14 ngoài thường lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại nếu không thể thương lượng, hòa giải. Thứ hai, căn cứ vào số lượng các bên TCTM, bao gồm tranh chấp thương mại hai bên và tranh chấp thương mại nhiều bên. Theo thống kê của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC), năm 2020 có tổng cộng 1.833 vụ án tranh chấp thương mại qốc tế đang chờ được xử lý tại cơ quan này, nâng tổng số vụ việc được tiếp nhận và xử lý kể từ khi thành lập ICC vào năm 1923 đến nay là 25.
Trong năm 2020, có tổng số 2.50 các bên liên quan đến vụ kiện được đệ trình, khoảng 1/3 số vụ việc (31%) liên quan đến nhiều bên. Như những năm trước đó, phần lớn các vụ việc là tranh chấp đa bên (8%), liên quan từ 3 đến 5 bên11. Thứ ba, căn cứ vào lĩnh vực tranh chấp, TCTM gồm tranh chấp liên quan đến chống độc quyền, vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ ủy thác, gian lận, sở hữu trí tuệ, quyền riêng tư, trách nhiệm pháp lý sản phẩm, bất động sản và tranh chấp cổ đông12. Theo thống kê năm 2020 của ICC, tranh chấp phát sinh từ xây dựng/kỹ thuật và năng lượng trong lịch sử tạo ra số lượng vụ kiện ICC lớn nhất với lần lượt là 194 và 167 trường hợp, chiếm khoảng 38% tổng số trường hợp.
Các lĩnh vực khác chiếm từ 5% đến 7% số trường hợp đăng ký mới bao gồm y tế/dược phẩm và mỹ phẩm, thương mại và phân phối tổng hợp, thiết bị và dịch vụ công nghiệp, tài chính và bảo hiểm, viễn thông và công nghệ chuyên dụng, và vận tải13. Thứ tư, căn cứ vào quá trình thực hiện, TCTM bao gồm tranh chấp trong quá trình đàm phán, soạn thảo, ký kết và thực hiện hợp đồng. Thứ năm, căn cứ vào thời điểm phát sinh tranh chấp, TCTM bao gồm tranh chấp thương mại hiện tại và tranh chấp thương mại trong tương lai. Các tranh chấp thương mại trong tương lai có thể là tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng thương mại được hình thành trong tương lai.
Giải quyết tranh chấp phát sinh trong kinh doanh thƣơng mại Tranh chấp trong kinh doanh, thương mại đã trở thành một hiện tượng tất yếu 11 ICC (2021), Dispute Resolution Statistics: 2020, https://nyiac.org/wp-content/uploads/2021/09/ICC-Dispute- Resolution-2020-Statistics.Pizzurro, What are commercial disputes?, https://www.com/glossary/commercial-disputes- litigation#:~:text=Commercial%20disputes%20vary%20in%20size,real%20estate%2C%20and%20shareholder %20disputes 13 ICC (2021), Dispute Resolution Statistics: 2020, https://nyiac.org/wp-content/uploads/2021/09/ICC-Dispute- Resolution-2020-Statistics.pdf 15 khách quan, không thể thiếu của nền kinh tế thị trường. Khi tranh chấp trong kinh doanh, thương mại phát sinh đòi hỏi cần phải được giải quyết một cách minh bạch, triệt để và hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, góp phần dự báo, ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại, bảo đảm trật tự pháp luật, kỷ cương xã hội. Giải quyết TCTM được hiểu là quá trình phân xử để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên cần được bảo vệ, buộc bên vi phạm quyền, nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm, thông qua hình thức, thủ tục thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ mâu thuẫn, xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các bên và của xã hội.