Tổng quan nghiên cứu

Ngành Dệt - may giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân Việt Nam nhờ khả năng đảm bảo nhu cầu tiêu dùng nội địa, mở rộng thương mại quốc tế và tạo việc làm cho hàng vạn lao động. Kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được ban hành, kim ngạch xuất khẩu của ngành đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc từ 140,4 triệu USD năm 1989 lên 1.350 triệu USD năm 1998 và đạt 1.892 triệu USD vào năm 2000, đóng góp khoảng 13,5% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc và chiếm tới 41% giá trị xuất khẩu của toàn ngành công nghiệp chế tác. Tính đến tháng 4 năm 2001, toàn ngành đã thu hút 269 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn đăng ký đạt 2.151,66 triệu USD.

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp to lớn về nguồn vốn và giải quyết việc làm, hoạt động FDI trong lĩnh vực dệt may nảy sinh nhiều hạn chế phức tạp: hiện tượng chuyển giá trốn thuế, nguy cơ nhập khẩu công nghệ lạc hậu, tình trạng mất cân đối liên kết giữa khâu dệt nhuộm và may mặc, cùng tỷ lệ dự án giải thể trước thời hạn lên tới hơn 18%. Vấn đề đặt ra là hiệu lực và năng lực quản lý nhà nước về FDI còn bộc lộ nhiều bất cập, chồng chéo và thiếu tính quy hoạch dài hạn.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng thu hút và quản lý FDI trong ngành dệt may giai đoạn 1988 - 2001, từ đó xác lập hệ thống giải pháp nâng cao năng lực quản lý nhà nước. Về mặt thực tiễn, công trình cung cấp luận cứ khoa học giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện cơ chế phân cấp cấp phép, kiểm soát chuyển giá, đồng thời nâng cao tỷ lệ giải ngân vốn thực hiện trên vốn đăng ký vượt mức 35% trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh và lý thuyết vòng đời sản phẩm quốc tế để luận giải xu hướng dịch chuyển sản xuất công nghiệp toàn cầu. Quá trình dịch chuyển này diễn ra theo hiệu ứng làn sóng cơ cấu, khi các quốc gia phát triển và các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NICs) chuyển giao những công đoạn thâm dụng lao động sang các nước đang phát triển nhằm tối ưu hóa chi phí nhân công. Trong ngành may mặc, suất đầu tư ban đầu tương đối thấp, chỉ dao động từ 0,6 đến 0,65 triệu USD cho công suất 1 triệu sản phẩm mỗi năm, tạo điều kiện thuận lợi cho các nước giàu tài nguyên lao động nhanh chóng gia nhập chuỗi cung ứng.

Song song đó, nghiên cứu dựa trên lý thuyết quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khung lý thuyết này khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc thiết lập hành lang pháp lý, định hướng dòng vốn vào các phân ngành chiến lược, khắc phục các khuyết tật thị trường và điều hòa lợi ích giữa nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp bản địa và người lao động. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa xuyên suốt gồm: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Quản lý nhà nước về đầu tư quốc tế, và Chuỗi liên kết giá trị sợi - dệt - nhuộm - may.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng tổng thể 269 dự án FDI trong ngành công nghiệp Dệt - may được cấp phép từ năm 1988 đến ngày 11 tháng 4 năm 2001, bao gồm 100 dự án dệt với tổng vốn đăng ký 1.691,27 triệu USD và 169 dự án may mặc. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ kết hợp phân nhóm theo loại hình tổ chức (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh) và địa bàn địa lý tại 13 tỉnh, thành phố trọng điểm.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Vụ Quản lý Dự án Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tổng cục Hải quan, Bộ Thương mại và báo cáo quyết toán tài chính của các doanh nghiệp. Tác giả áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích hồi quy tương quan và mô hình toán kinh tế nhằm định lượng hóa dòng dịch chuyển vốn và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh. Phương pháp phân tích thể chế so sánh qua 4 giai đoạn tiến hóa của bộ máy quản lý nhà nước (1988-1989, 1989-1993, 1993-1995, 1995-2001) được lựa chọn nhằm phát hiện chính xác các rào cản hành chính và nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ trong giải ngân dự án.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thu hút FDI có sự thiên lệch lớn về hình thức sở hữu và phân bố lãnh thổ. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm ưu thế áp đảo với 72 dự án trong ngành dệt (vốn đăng ký hơn 1,5 tỷ USD), trong khi hình thức liên doanh chỉ chiếm 26 dự án (10,6% vốn đăng ký) và hợp đồng hợp tác kinh doanh chỉ có 2 dự án (chiếm 0,06% vốn). Về mặt địa bàn, 93% số dự án và 98% tổng vốn đầu tư tập trung tại các tỉnh phía Nam. Tỉnh Đồng Nai dẫn đầu cả nước với 21 dự án dệt đạt quy mô vốn 1.114 triệu USD, chiếm tới 73,0% tổng vốn đầu tư toàn ngành.

Thứ hai, hiệu suất giải ngân vốn thực tế còn rất thấp và tỷ lệ giải thể cao. Trong số 82 dự án dệt còn hiệu lực hoạt động, tổng vốn thực hiện mới chỉ đạt 597 triệu USD, tương đương 35% tổng vốn đăng ký. Đáng chú ý, toàn ngành dệt may ghi nhận 49 dự án bị giải thể trước thời hạn với tổng vốn thiệt hại 219,344 triệu USD, riêng ngành dệt chiếm 18 dự án (tỷ lệ giải thể 18%) và ngành may ghi nhận 32 dự án đổ vỡ do năng lực tài chính yếu kém của đối tác ngoại và xung đột nội bộ.

Thứ ba, FDI đóng góp quyết định vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và giải quyết việc làm. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng liên tục từ 211 triệu USD năm 1992 (chiếm 8,1% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia) lên 1.765 triệu USD năm 1999 (chiếm 15,31% tổng kim ngạch xuất khẩu), giữ vững vị thế mặt hàng xuất khẩu chủ lực thứ hai của Việt Nam. Toàn ngành thu hút trên 50 vạn lao động công nghiệp (chiếm 22,7% lao động công nghiệp toàn quốc), trong đó lao động nữ chiếm tỷ lệ trên 80%.

Thứ tư, tình trạng gian lận chuyển giá và thiếu đồng bộ công nghệ diễn ra nghiêm trọng. Trong 41 doanh nghiệp dệt đã đi vào hoạt động có phát sinh doanh thu đạt 1.136,3 triệu USD, có tới 19 doanh nghiệp liên tục báo cáo thua lỗ kéo dài nhằm né tránh thuế lợi tức, đẩy đối tác Việt Nam vào nguy cơ mất vốn liên doanh.

Thảo luận kết quả

Khi tổng hợp bức tranh đầu tư qua các bảng số liệu chuỗi thời gian từ 1988 đến 2001 và biểu đồ cơ cấu đối tác, có thể thấy nguồn vốn chủ yếu đến từ các nền kinh tế châu Á: Đài Loan đứng đầu với 28 dự án đạt 768,72 triệu USD (chiếm 50% tổng vốn hoạt động ngành dệt), theo sau là Hàn Quốc với 30 dự án đạt 682,152 triệu USD và Hồng Kông với 41,781 triệu USD.

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại nêu trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong chiến lược quy hoạch chuỗi giá trị. Ngành dệt trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu nguyên phụ liệu chất lượng cao cho ngành may, buộc các xí nghiệp may gia công phải nhập khẩu hầu hết vải và chỉ từ nước ngoài. Thêm vào đó, việc quy định tỷ lệ nội tiêu dưới 20% đã hạn chế khả năng tiêu thụ tại chỗ của doanh nghiệp FDI. So với các nghiên cứu kinh tế về Thái Lan hay Đài Loan ở cùng giai đoạn phát triển, hiệu quả tiếp nhận chuyển giao công nghệ tại Việt Nam còn thấp do bộ máy quản lý chưa có cơ chế kiểm tra định mức kinh tế kỹ thuật độc lập. Kết quả này khẳng định yêu cầu cấp thiết phải chuyển từ cơ chế can thiệp hành chính sang điều tiết gián tiếp bằng đòn bẩy kinh tế và tiêu chuẩn kỹ thuật.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện khung pháp lý và đa dạng hóa hình thức tổ chức doanh nghiệp. Quốc hội và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần sớm ban hành quy chế cho phép thành lập công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài và triển khai thí điểm cổ phần hóa các doanh nghiệp FDI dệt may hoạt động hiệu quả trong lộ trình 2002 - 2005; đồng thời nới lỏng tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm nội địa vượt mức trần 20% đối với các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu.

Thứ hai, quy hoạch đồng bộ vùng nguyên liệu và tổ hợp công nghiệp dệt nhuộm khép kín. Bộ Công nghiệp chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng các vùng chuyên canh cây bông vải và vùng nguyên liệu xơ nhân tạo, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa nguồn nguyên liệu phục vụ may xuất khẩu lên trên 50% vào năm 2010 nhằm giảm thiểu phụ thuộc vào thị trường nước ngoài.

Thứ ba, đẩy mạnh phân cấp quản lý và cải cách thủ tục hành chính. Thực hiện ủy quyền triệt để cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu chế xuất trong việc tiếp nhận, thẩm định và cấp phép các dự án dệt may có quy mô vốn dưới 40 triệu USD; chuẩn hóa quy trình cấp chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy phép xây dựng với thời gian giải quyết tối đa không quá 30 ngày làm việc.

Thứ tư, tăng cường công tác thanh tra tài chính, hậu kiểm công nghệ và chống chuyển giá. Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với Tổng cục Hải quan và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thiết lập cơ sở dữ liệu định giá máy móc nhập khẩu, tiến hành kiểm toán bắt buộc đối với các doanh nghiệp báo lỗ liên tiếp trên 3 năm nhưng vẫn mở rộng quy mô, nhằm bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước và bảo vệ quyền lợi đối tác liên doanh trong nước.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cán bộ chuyên trách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư các địa phương có thể vận dụng luận văn để tham mưu hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế, xây dựng tiêu chí sàng lọc dự án và nâng cao hiệu lực phân cấp quản lý FDI theo Nghị định 10/1998/NĐ-CP và Luật Đầu tư.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp và hiệp hội ngành hàng: Lãnh đạo Tổng công ty Dệt may Việt Nam và các doanh nghiệp trong ngành có thể khai thác các bài học kinh nghiệm trong đàm phán hợp đồng liên doanh, nhận diện rủi ro liên quan đến thẩm định giá công nghệ và chủ động thiết lập liên kết chuỗi cung ứng dệt nhuộm may.

Nhóm nhà đầu tư quốc tế và các tổ chức tư vấn kinh tế: Các tổ chức tài chính, nhà đầu tư nước ngoài nắm bắt được hệ thống thể chế, xu hướng phân bổ địa bàn và các ưu đãi hiện hành tại các khu công nghiệp trọng điểm phía Nam (Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh) để hoạch định chiến lược đầu tư dài hạn.

Nhóm nghiên cứu học thuật và giảng viên kinh tế: Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế quốc tế và Quản trị công sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo với hệ thống dữ liệu thực chứng chuẩn xác về lịch sử phát triển công nghiệp và quản lý vốn nước ngoài tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Quy mô vốn bình quân của một dự án FDI ngành dệt may trong giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu? Quy mô vốn bình quân của một dự án FDI ngành dệt đạt 16,91 triệu USD, cao hơn mức bình quân chung của các dự án FDI tại Việt Nam thời kỳ này (khoảng 15 triệu USD/dự án). Ngược lại, đối với ngành may mặc, quy mô vốn bình quân thấp hơn rất nhiều, suất đầu tư chỉ cần khoảng 0,6 đến 0,65 triệu USD cho mỗi triệu sản phẩm hàng năm.

Đâu là nguyên nhân chính khiến 49 dự án FDI dệt may bị giải thể trước thời hạn? Nguyên nhân chủ yếu do đối tác nước ngoài suy giảm năng lực tài chính dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, việc khảo sát thị trường thiếu thực tế, phát sinh mâu thuẫn nội bộ không thể dung hòa giữa hai bên liên doanh và một số dự án nhập khẩu thiết bị lạc hậu dẫn đến thua lỗ kéo dài.

Hiện tượng chuyển giá trong các doanh nghiệp dệt may FDI diễn ra bằng những thủ đoạn nào? Các nhà đầu tư nước ngoài thường thông đồng nâng khống giá nguyên vật liệu, phụ liệu nhập khẩu và định giá máy móc cũ ở mức cao, đồng thời bán sản phẩm đầu ra cho công ty mẹ ở nước ngoài với giá thấp hơn giá thành. Thủ đoạn này tạo ra chi phí sản xuất cao giả tạo, khiến doanh nghiệp báo lỗ để trốn thuế thu nhập.

Việc phân cấp quản lý đầu tư từ năm 1997 mang lại hiệu quả gì cho ngành dệt may? Chính sách phân cấp cho các địa phương cấp phép và quản lý các dự án có quy mô vốn lên đến 40 triệu USD đã giúp giảm bớt tình trạng ách tắc hồ sơ tại các cơ quan trung ương, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính, đẩy nhanh tiến độ bàn giao đất và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đi vào sản xuất.

Xu hướng dịch chuyển ngành dệt may vào Việt Nam tuân theo quy luật nào? Ngành dệt may Việt Nam phát triển theo xu thế chuyển dịch làn sóng cơ cấu trong khu vực. Khi chi phí lao động tại các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan tăng cao, chuỗi sản xuất thâm dụng lao động được chuyển giao sang Việt Nam nhằm khai thác lợi thế nguồn nhân công dồi dào, tạo bước đệm công nghiệp hóa đất nước.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với vốn FDI trong ngành Dệt - may theo quy luật kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Đánh giá xác thực bức tranh thu hút 269 dự án với tổng vốn hơn 2,15 tỷ USD, khẳng định vai trò trụ cột của ngành khi đóng góp 15,31% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hơn 50 vạn lao động.
  • Chỉ rõ các nút thắt nội tại gồm tỷ lệ giải ngân vốn thực hiện chỉ đạt 35%, nguy cơ gian lận chuyển giá và sự đứt gãy giữa khâu sản xuất vải với khâu may xuất khẩu.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về thể chế, hoàn thiện quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung và đẩy mạnh phân cấp quản lý hành chính gắn với hậu kiểm minh bạch.
  • Đề xuất lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2010, đóng vai trò cẩm nang định hướng cho các nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu trong việc nâng cao hiệu lực thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế chất lượng cao.