CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ SIÊU THỊ 1. Chất lượng dịch vụ siêu thị 1. Dịch vụ và dịch vụ siêu thị 1. Dịch vụ Dịch vụ là những hoạt ñộng hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những mối quan hệ ñối tác lâu dài với khách hàng.
Dịch vụ ngày càng ñóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia thông qua việc tạo ra những giá trị ñóng góp cho nền kinh tế ấy. Nhiều nhà nghiên cứu ñã tập trung vào nghiên cứu dịch vụ từ ñầu thập niên 1980 [2]. ðối với sản phẩm hữu hình thì người ta dễ dàng ñịnh nghĩa và ño lường chất lượng, nhưng ñối với dịch vụ là những sản phẩm vô hình thì việc ñánh giá chất lượng gặp nhiều khó khăn hơn. ðiều này có thể lý giải dựa vào ñặc tính của dịch vụ.
Theo lý thuyết về marketing dịch vụ, dịch vụ gồm ba ñặc ñiểm cơ bản là tính vô hình, tính không ñồng nhất và tính không thể tách rời. Thứ nhất, tính vô hình, phần lớn dịch vụ ñược xem là sản phẩm vô hình, không thể cân, ño, ñong, ñếm, thử nghiệm và kiểm ñịnh trước khi mua. Vì tính vô hình này, dịch vụ ñã gây ra nhiều khó khăn cho việc quản lý hoạt ñộng cung cấp dịch vụ, cho hoạt ñộng marketing dịch vụ và cho việc nhận biết dịch vụ (Robinson, 1999) [2]. Do ñó, ñể nhận biết dịch vụ thông thường phải thông qua những cơ sở vật chất kỹ thuật trong môi trường dịch vụ, chẳng hạn như các thiết bị, dụng cụ, ánh sáng, màu sắc và ñặc biệt là con người có quan hệ trực tiếp tới hoạt ñộng cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp.
Thứ nhì, tính không ñồng nhất, ñặc biệt là ñối với những dịch vụ có hàm lượng cao về sức lao ñộng của con người. ðiều này có nghĩa là chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào ai cung cấp chúng, cung cấp khi nào, ở ñâu và bằng 5 cách nào. Hay nói cách khác sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa ñược. Việc yêu cầu chất lượng phục vụ ñồng nhất từ ñội ngũ nhân viên cũng rất khó bảo ñảm (Caruana và Pitt, 1997) [2] với lý do những gì mà công ty dự ñịnh phục vụ cho khách hàng có thể hoàn toàn khác với những gì mà khách hàng có thể nhận ñược.
Sau cùng là sản xuất và tiêu dùng dịch vụ là không thể tách rời. Chất lượng dịch vụ không thể sản xuất trong nhà máy, rồi chuyển nguyên hiện trạng dịch vụ ñó ñến người tiêu dùng. Nếu dịch vụ có hàm lượng lao ñộng cao, chất lượng xảy ra trong quá trình chuyển giao dịch vụ, thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên cung cấp dịch vụ (Svensson, 2002) [2]. Trong bối cảnh thị trường hội nhập và cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp nhìn chung có cùng trình ñộ về cơ sở hạ tầng, thiết bị công nghệ, sản phẩm ñảm bảo chất lượng,… thì việc ñầu tư vào những tiêu chí như trên không còn là yếu tố tạo nên sự khác biệt và lợi thế riêng của doanh nghiệp nữa.
Chỉ có yếu tố cốt lõi tạo nên lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp, ñó là nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho các khách hàng, tạo ra giá trị dành cho khách hàng và làm khách hàng hài lòng. Dịch vụ siêu thị Theo ñịnh nghĩa của Phillip Kotler [1], “siêu thị (super market) là những cửa hàng tự phục vụ tương ñối lớn về diện tích mặt bằng, cũng như về doanh số bán hàng; bán lẻ ngành hàng thực phẩm và phi thực phẩm; có nhiều gian hàng ñược phân loại một cách khoa học và tiện dụng và ñảm bảo nhu cầu tiêu dùng hàng ngày”. Còn ở Việt Nam, theo cách hiểu phổ biến, siêu thị là cửa hàng bán lẻ kinh doanh theo phương thức tự phục vụ, cơ sở vật chất tương ñối hiện ñại, 6 bán nhiều mặt hàng ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày như thực phẩm, ñồ dùng gia ñình và các vật phẩm khác. Các khái niệm có thể có vài ñiểm khác nhau nhưng ñều thống nhất ở chỗ siêu thị là loại hình bán lẻ văn minh, hiện ñại, người mua hàng tự phục vụ mình.
Loại hình này ñã ñược hình thành và phát triển từ những năm 1930 ở Hoa Kỳ và sau ñó trở nên phổ biến trên toàn thế giới. Cho ñến những năm 1990 ở Việt Nam loại hình bán lẻ này mới ñược du nhập vào. Các ñặc trưng của một siêu thị Về hàng hóa: Kinh doanh siêu thị yêu cầu có một danh mục hàng hóa rất ña dạng, lên tới hàng ngàn mặt hàng theo hai nhóm chính là “hàng thực phẩm” và “hàng phi thực phẩm”. Một siêu thị ñúng nghĩa có thể ñáp ứng hoàn toàn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng trong sinh hoạt hàng ngày.
Về cơ sở hạ tầng: Cơ sở vật chất, hạ tầng của một siêu thị ñòi hỏi nhiều yếu tố cao cấp hơn chợ về vị trí, mặt bằng, trang thiết bị… Về vị trí, các siêu thị thường ñược ñặt ở các khu trung tâm mua sắm, thuận tiện giao thông ñi lại. Về mặt bằng, các siêu thị phải ñạt các tiêu chuẩn tối thiểu về diện tích bên trong siêu thị và có bãi giữ xe rộng rãi theo ñúng quy ñịnh. ðặc biệt mỗi siêu thị còn phải có nội thất trang trí ñẹp và ñược trang bị ñầy ñủ các phương tiện phục vụ bán hàng hiện ñại như: hệ thống ñiều hòa nhiệt ñộ, máy tính tiền, hệ thống cấp ñông… Về yếu tố tự phục vụ: ðây là ñặc trưng nổi bật của siêu thị so với chợ truyền thống. Khác với ở chợ, người tiêu dùng hoàn toàn quyết ñịnh việc lựa chọn mặt hàng, số lượng, chủng loại và tự ñem hàng hóa ra quầy tính tiền.
ðiều này tạo tâm lý kích thích, khêu gợi sự chủ ñộng và lòng ham muốn mua sắm của khách hàng vì không phải trả giá, và nếu có lựa hàng kỹ nhưng không mua cũng không sao vì không làm phiền lòng người bán. 7 Về quy mô hoạt ñộng: Siêu thị cần có quy mô tương ñối lớn. ðể hoạt ñộng ñược trên cơ sở chi phí thấp, siêu thị phải có quy mô hợp lý mới có thể tiêu thụ ñược khối lượng hàng hóa lớn ñủ ñể bù ñắp ñược chi phí kinh doanh. Ngày nay, khách hàng ñến siêu thị mua sắm không chỉ ñể chọn mua những thứ cần thiết mà còn là một niềm vui thú, hoặc là dịp sinh hoạt cuối tuần của gia ñình.
Mặt khác, với tình hình nhiều siêu thị ñược hình thành, sự cạnh tranh giữa các siêu thị trên thị trường bán lẻ ngày càng sâu sắc. Do ñó, các siêu thị không chỉ ñơn giản có nhiều hàng hóa cho khách hàng, hoặc giá cả cạnh tranh nhau và cạnh tranh với chợ, mà còn phải biết nâng cao chất lượng dịch vụ của siêu thị mình, ñể phục vụ khách hàng tốt hơn và có nhiều khách hàng trung thành hơn. Chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ siêu thị 1.1 Chất lượng dịch vụ Theo Svensson [2], chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ. Theo Lehtien [2], chất lượng dịch vụ phải ñược ñánh giá trên hai khía cạnh là (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ.
Còn theo Parasuraman và các tác giả (ctg) [2], chất lượng dịch vụ ñược cảm nhận bởi khách hàng thể hiện qua mô hình 10 thành phần sau: - Tin cậy (reliability): nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và ñúng thời hạn ngay lần ñầu tiên. - ðáp ứng (resposiveness): nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng. - Năng lực phục vụ (competence): nói lên trình ñộ chuyên môn ñể thực hiện dịch vụ của nhân viên giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ. 8 - Tiếp cận (access): liên quan ñến việc tạo mọi ñiều kiện dễ dàng cho khách hàng tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ ñợi của khách hàng, ñịa ñiểm phục vụ và thời gian mở cửa phù hợp cho khách hàng.
- Lịch sự (courtery): nói lên cung cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng. - Thông tin (communication): liên quan ñến việc giao tiếp, thông ñạt cho khách hàng bằng ngôn ngữ họ dễ dàng hiểu biết và lắng nghe họ về những vấn ñề liên quan ñến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại, thắc mắc. - Tín nhiệm (credibility): nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho họ tin cậy vào doanh nghiệp. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi, uy tín thương hiệu của doanh nghiệp, nhân cách của nhân viên dịch vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng.
- An toàn (security): liên quan ñến khả năng bảo ñảm sự an toàn cho khách hàng thể hiện qua sự an toàn về vật chất, cũng như ñộ bảo mật về thông tin. - Hiểu biết khách hàng (knowing the customer): thể hiện qua khả năng hiểu biết nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những ñòi hỏi của khách hàng, quan tâm ñến cá nhân họ và nhận dạng ñược các khách hàng thường xuyên. - Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Mô hình 10 thành phần của chất lượng dịch vụ nêu trên có ưu ñiểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của một dịch vụ.
Tuy nhiên, nó có nhược ñiểm là phức tạp trong việc ño lường và một số thành phần mang tính trùng lắp. Chính vì vậy, một số nhà nghiên cứu [2] ñã kiểm ñịnh mô hình này và ñi ñến kết luận là chất lượng dịch vụ bao gồm 5 thành phần cơ bản, ñó là: 9 - Tin cậy (reliability): nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và ñúng thời hạn ngay lần ñầu tiên. - ðáp ứng (resposiveness): nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. - Năng lực phục vụ (competence): thể hiện trình ñộ chuyên môn và cung cách phục vụ lịch sự, niềm nở với khách hàng.
- ðồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm, chăm sóc ñến từng cá nhân khách hàng. - Phương tiện hữu hình (tangibles): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ.