Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài Chương 2. Thiết kế và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Phân tích kết quả nghiên cứu 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu trên thế giới 1. Các nghiên cứu ở Phương Tây Từ những năm 1970, đã có nhiều nghiên cứu về ở Phương Tây về các về các PCLCM. Các nghiên cứu này đã chỉ ra trong số các PCLCM như PC dân chủ, độc đoán, dễ dãi/nuông chiều và thờ ơ, PCLCM dân chủ là PC có tác động lớn nhất đến sự phát triển HV của trẻ theo hướng tích cực.
Cách ứng xử của CM thuộc ba PC còn lại đều có những tác động tiêu cực đến HV của trẻ trên nhiều phương diện như cảm xúc, học tập, xã hội, HV hướng nội và HV hướng ngoại. Về khía cạnh cảm xúc, nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách của CM, PCLCM với khả năng tự chủ và kiểm soát cảm xúc của con cái của Coplan, Reichel và Rowan (2009) đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa PCLCM với khả năng kiểm soát cảm xúc của trẻ. Theo đó, khả năng kiểm soát cảm xúc của trẻ vị thành niên sống với CM có PC dân chủ tốt hơn những trẻ sống với CM có PC độc đoán và dễ dãi [31, tr. Về khía cạnh học tập, một số nghiên cứu đã cho thấy thành tích học tập của những đứa trẻ sống với CM có PC dân chủ cao hơn so với những đứa trẻ sống với CM có PC độc đoán.
Và những đứa trẻ sống với CM có PC dễ dãi có thành tích học tập chung kém nhất. Những nghiên cứu được thực hiện với những sinh viên đại học cũng cho thấy sự ảnh hưởng tích cực của PCLCM dân chủ đến thành tích học tập của con cái. Theo đó, các nhà nghiên cứu cho biết có thể dự báo được sức khỏe tinh thần cũng như sự thành công trong học tập của một trẻ vị thành niên trong tương lai nếu biết được trẻ đó có được sống với CM có PC dân chủ trong gia đoạn quan trọng này không. Nghiên cứu cũng chỉ ra những đặc trưng cơ bản của PC CM dân chủ gồm: Những nguyên tắc quản lý HV, sự nồng ấm của CM và việc chú ý rèn luyện, phát triển tính tự lập cho trẻ có mối tương quan với động cơ học tập cao và tỉ lệ thuận với mức điểm số trung bình của trẻ khi là sinh viên [40, tr.
Về phương diện HV xã hội: Nghiên cứu của Moscatelli và Rubini (2009) [38] tiến hành nghiên cứu trên 400 trẻ trong độ tuổi từ 14 - 18 để kiểm tra mối quan hệ giữa PCLCM và sự phát triển xã hội cũng như kế hoạch phát triển tương lai của trẻ. Nghiên 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cứu cho thấy, những trẻ sống trong gia đình dân chủ thì có hệ số tự tin và niềm tin vào gia đình cao hơn. Trẻ có cảm giác an toàn cao hơn (trẻ coi trọng giá trị của gia đình nhiều hơn, tự hào vì mình là một tHVên của gia đình. Trẻ cũng cho rằng gia đình là nơi đóng vai trò quan trọng với trẻ khi trẻ phải đương đầu với những khó khăn), có khả năng tự chủ trong những tình huống khó chịu tốt hơn và hệ số thông minh cao hơn những trẻ sống trong gia đình CM có PC độc đoán, dễ dãi, thờ ơ.
Trong đó, trẻ sống với CM có PC thờ ơ có điểm hệ số tự tin thấp nhất. Nghiên cứu cũng chỉ ra trẻ sống với những CM có PC dân chủ có điểm số cao hơn về mong đợi vào tương lai cũng như khả năng tự thực hiện những kế hoạch trẻ sống trong gia đình độc đoán và thờ ơ. HV hướng ngoại của trẻ có mối liên hệ với PCLCM độc đoán. Theo đó, những HV hướng ngoại của trẻ như: ngỗ nghịch, hung hăng, đánh nhau và những HV phạm pháp tỉ lệ thuận với kiểu PCLCM này.
Những HV có tính chất thường xuyên và hay tái diễn như ăn cặp vặt có mức tương quan cao nhất. Tuy nhiên, với những HV phạm pháp có tính chất nghiêm trọng lại có mối tương quan cao nhất với PCLCM thờ ơ. Trong khi đó, những đứa trẻ sống với CM có PC dân chủ có mối tương quan thấp với những HV không thích nghi. Những nghiên cứu này cũng đưa ra những khuyến nghị liên quan đến sự cần thiết phải nâng cao chất lượng mối quan hệ giữa CM với con cái.
Đồng thời xây dựng những nguyên tắc rõ ràng để điều chỉnh HV của trẻ sẽ giúp tăng khả năng thích nghi của trẻ trong những tình huống bạo lực và những khó khăn trong cuộc sống. PCLCM cũng có mối liên quan đến những HV hướng nội của trẻ. Điều này được chỉ ra trong nghiên cứu trường diễn trên mẫu 113 trẻ trong suốt 15 năm để tìm hiểu mối quan hệ giữa PCLCM và HV của trẻ. Nghiên cứu đã chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa PC dễ dãi nuông chiều trẻ trong giai đoạn nhà trẻ với những rối loạn HV hướng nội và các rối loạn lo âu khác của trẻ.
Từ kết quả này, các nhà nghiên cứu có thể dự báo được những rối loạn HV hướng nội có thể xảy ra khi học tiểu học của trẻ sống với CM có PC dễ dãi trong lứa tuổi nhà trẻ [41, tr. Một nghiên cứu khác được thực hiện trên 100 trẻ vị thành niên bị trầm cảm cũng cho ra kết quả tương tự khi nhận thấy rằng có mối tương quan thuận giữa PCLCM độc đoán với bệnh trầm cảm ở trẻ. Nghiên cứu này cũng chỉ ra mối tương quan nghịch giữa PCLCM dễ dãi với bệnh trầm cảm của trẻ [37, tr. Tóm lại, các nghiên cứu về PCLCM của ở Phương Tây cho thấy có mối tương quan giữa PCLCM độc đoán, thờ ơ hoặc dễ dãi với những HV tiêu cực ở trẻ.
Những HV 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com này bao gồm cả HV hướng nội và HV hướng ngoại. Những HV hướng nội như là rối loạn cảm xúc, lo âu và trầm cảm. Với những HV hướng ngoại, đó là những HV mang tính bạo lực, hung tính, trộm cắp, lừa gạt. Đồng thời, các nghiên cứu ở Phương Tây cũng chỉ ra mối tương quan rõ rệt giữa PCLCM dân chủ với những HV tích cực ở trẻ, đặc biệt là việc tích cực học tập, những HV thích nghi và tính độc lập ở trẻ.
Các nghiên cứu ở Châu Á Các nghiên cứu ở Châu Á về PCLCM với HV của trẻ cũng cho thấy một số điểm tương đồng với các nghiên cứu ở Phương Tây khi chỉ ra rằng có mối tương quan giữa những PCLCM độc đoán, thờ ơ và dễ dãi với những HV tiêu cực của trẻ. Nghiên cứu so sánh trên đối tượng trẻ vị thành niên Nhật Bản và trẻ người Mỹ cho thấy những CM có PC độc đoán với sự kiểm soát quá mức về tâm lý có mối tương quan đến những rối loạn HV cảm xúc ở cả trẻ Nhật Bản và Mỹ [35, tr. Đồng thời, có mối tương quan thuận giữa PCLCM độc đoán này với tỉ lệ trầm cảm cũng như những HV phạm pháp ở các nhóm trẻ thuộc các dân tộc Mỹ, Đức, Ấn Độ và Trung Quốc. Một nghiên cứu khác được thực hiện trên 2000 trẻ sống tại các vùng nông thôn của Trung Quốc cũng chỉ ra những trẻ sống với CM có PC độc đoán với các cách ứng xử đặc trưng của PCLCM này như: sử dụng các hình phạt nghiêm khắc, mắng mỏ, chỉ trích khi con cái có HV không mong muốn thường có các HV tiêu cực, bao gồm cả các HV hướng nội và hướng ngoại.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra có sự khác biệt giữa tác động tiêu cực trong cách ứng xử của CM với HV của trẻ trai và trẻ gái. Trong nền văn hóa Trung Quốc với chế độ phong kiến hà khắc và những yêu cầu chặt chẽ với các HV và cách ứng xử của người nam và người nữ trong xã hội. Và trong bối cảnh người nam được mong đợi cao về vai trò làm trụ cột trong gia đình và xã hội nên các trẻ em trai thường phải chịu những hình phạt hà khắc hơn so với trẻ gái. Theo đó, với cùng một hình phạt cho những vi phạt cho những vi phạm về qui tắc ứng xử của trẻ trai và trẻ gái thì trẻ gái sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn so với trẻ trai [36].
Tuy nhiên, các nghiên cứu ở Châu Á cũng chỉ ra những khác biệt về kết quả với những nghiên cứu ở Phương Tây về mối tương quan giữa PCLCM dân chủ với HV tích cực của trẻ. Điều này xuất phát từ những khác biệt về văn hóa giữa các nước thuộc Châu Á với các nước ở Phương Tây. Bởi trong nền văn hóa Châu Á, các bậc CM có quan niệm khác với các bậc CM Phương Tây. Các bậc CM ở Châu Á quan niệm theo kiểu “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”.
Họ quan niệm sự khen ngợi hay ngọt ngào với con có 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể làm cho trẻ cảm thấy chúng được chiều chuộc quá mức nên sẽ yếu mềm hoặc hư hỏng. Họ tin rằng trẻ nhỏ cần phải được hạn chế bởi các nguyên tắc rõ ràng và nghiêm khắc để chúng có thể phát triển đúng hướng. Nên họ có xu hướng kiểm soát HV với con cái hơn các bậc CM ở Phương Tây. Đồng thời họ cũng ít bộc lộ tình yêu thương của mình dành cho con cái theo cách mà người Phương Tây hay làm như ôm hôn con hay nói trực tiếp với con cái những lời lẽ tình cảm, yêu thương hoặc khen ngợi.
Họ đưa ra nhiều mệnh lệnh hơn với con, sử dụng các hình phạt về cơ thể nhiều hơn, đưa ra nhiều quy tắc và yêu cầu trẻ tuân thủ nhiều hơn [30, tr. Theo đó, khi các bậc CM ở Châu Á khen ngợi con cái và thể hiện tình yêu thương với con cái thông qua các cử chỉ như ôm, hôn con thì những HV này có tác động tích cực đến trẻ nhiều hơn so với những trẻ em ở Phương Tây [36]. Các bậc CM Châu Á cũng có xu hướng bao bọc con nhiều hơn nên hiếm khi khuyến khích sự phát triển độc lập của con cái như các bậc CM Phương Tây. Nhưng điều này không có nghĩa là họ có ít tình yêu thương dành cho con cái hơn các bậc CM Phương Tây.
Sự khác biệt chỉ liên quan đến cách thể hiện. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Các bậc CM Châu Á thể hiện tình yêu thương với con cái mình một cách âm thầm hơn.