CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHU VỰC KINH TẾ TƯ NHÂN 1.1 MÔI TRƯỜNG KINH DOANH Theo cách hiểu rộng nhất, môi trường kinh doanh là tập hợp những điều kiện bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây cũng là quan điểm của Jauch và Glueck (1988), theo đó có những tầng mức môi trường kinh doanh khác nhau. Tầng mức môi trường nội tại bao gồm một số yếu tố bên trong mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được như vốn, lao động, thông tin, ý tưởng, đất đai, thiết bị, và quyết định sản lượng.
Tầng mức môi trường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạt động cùng ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng và bao quát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục, thương mại, công nghiệp,…), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đến quốc gia), địa phương (chính sách ưu đãi, chính sách phát triển của địa phương). Đây là tầng mức môi trường mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được mà chỉ có thể phản hồi hoặc tương tác lại. Các doanh nghiệp sẽ điều chỉnh những thành tố môi trường nội tại để nắm bắt những cơ hội cũng như để đối mặt với những thách thức từ môi trường bên ngoài. Phần lớn các nghiên cứu hiện tại định nghĩa môi trường kinh doanh chỉ bao gồm những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp, Robin Wood (2000) cho rằng môi trường kinh doanh là một tập hợp các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, công nghệ và được gọi là phân tích PEST (Political, Economic, Socio-cultural, Technology) hoặc STEP (Social, Technological, Political, Economic).
Những yếu tố này nằm ngoài tầm kiểm soát và có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -6- ----------------------------------------------------------------------------------------------------- doanh nghiệp. Mở rộng thêm khái niệm của Robin Wood (2000), một số tác giả khác phân chia thành tố môi trường theo các yếu tố xã hội, công nghệ, kinh tế, môi trường và chính trị (STEEP: Social, Technological, Economic, Environmental, Political) hoặc văn hóa – xã hội, chính trị - pháp luật, kinh tế, điều kiện tự nhiên và công nghệ (SPENT: Socio-cultural, Political-legal, Economic, Natural, Technological),… Thậm chí, một số nghiên cứu tại Việt Nam còn thu hẹp khái niệm môi trường kinh doanh hơn nữa khi cho rằng môi trường kinh doanh chủ yếu là các chính sách và quy định mà chính phủ áp dụng để điều tiết các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, kể cả những hoạt động sắp xếp về mặt tổ chức xung quanh doanh nghiệp. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường kinh doanh, những điểm chính của môi trường kinh doanh như thủ tục hành chính và quản lý, hoạt động và chi phí không chính thức, các chính sách hỗ trợ, can thiệp của Nhà nước, khả năng tiếp cận nguồn nhân lực,… vẫn luôn là trung tâm của phần lớn những thảo luận và nghiên cứu về môi trường kinh doanh của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng. Những điểm chính này đã bao hàm những tầng lớp môi trường chính có tác động đến hoạt động của doanh nghiệp trong phạm vi một quốc gia, cũng như có sự gắn bó mật thiết với thể chế cũng như pháp luật, quy định của chính phủ đối với khu vực doanh nghiệp.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TƯ NHÂN 1.1 Kinh tế tư nhân trong phát triển kinh tế của các quốc gia Thuật ngữ “Kinh tế tư nhân” gắn liền với vấn đề sở hữu.
Sở hữu là quan hệ giữa con người và con người trong sản xuất, phản ánh quá trình chiếm hữu ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -7- ----------------------------------------------------------------------------------------------------- của cải vật chất. Quan hệ sở hữu xác định quyền của chủ sở hữu chứa đựng những nội dung kinh tế, đồng thời cũng được xác định về mặt pháp lý. Quyền sở hữu xác định quyền của chủ sở hữu trong việc sử dụng và hưởng lợi từ việc khai thác các đối tượng sở hữu. Sự phát triển của lực lượng sản xuất chi phối sự phát triển của các quan hệ sản xuất, trong đó có quan hệ sở hữu.
Quan hệ sở hữu nguyên thủy trong lịch sử loài người là sở hữu tập thể. Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã phá vỡ hình thức sở hữu sơ khai đó để thay thế nó bằng quan hệ sở hữu tư nhân. Lịch sử phát triển kinh tế của các nước trên thế giới cũng chỉ ra rằng, ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, sở hữu nhà nước vẫn còn tồn tại trong nền kinh tế thị trường. Nó thể hiện sự can thiệp của nhà nước vào thị trường, với tư cách là phương thuốc cho những thất bại của thị trường, giúp nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững hơn.
Trải qua nhiều thời kỳ phát triển khác nhau, vị trí kinh tế tư nhân được nhìn nhận rất khác nhau trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau. Ở các nền kinh tế phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa trước đây, cũng như trong thời kỳ chuyển đổi hiện nay, sự nhìn nhận vai trò của kinh tế tư nhân cũng được thay đổi nhiều qua các thời kỳ trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Như vậy, sở hữu tư nhân là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản xuất, chi phối và hưởng lợi từ kết quả quá trình sản xuất đó. Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất là cơ sở ra đời khu vực kinh tế tư nhân.
Khu vực kinh tế tư nhân có thể hiểu là một thuật ngữ phản ánh một bộ phận kinh tế của các chủ thể xã hội, hoạt động dựa trên quyền sở hữu tư nhân về các điều kiện cơ bản sản xuất. ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Phạm vi khu vực kinh tế tư nhân Phạm vi về kinh tế tư nhân có nhiều cách hiểu hoàn toàn không thống nhất, điều này có ảnh hưởng đến công tác thống kê, ảnh hưởng đến công tác nghiên cứu trong việc đánh giá vai trò, tiềm năng khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế. Ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển, mọi hoạt động kinh tế không thuộc khu vực kinh tế nhà nước đều được xem là khu vực kinh tế tư nhân. Các công ty tư nhân hay các hợp tác xã, các công ty hợp danh của một nhóm người hay các công ty cổ phần xuyên quốc gia cũng đều có đặc điểm chung là những đơn vị kinh doanh không phải của nhà nước, các quyết định cho hoạt động của doanh nghiệp luôn do cá nhân hay đại diện cho một nhóm cá nhân đề ra.
Việc nhìn nhận này không chỉ thấy hết tiềm lực kinh tế tư nhân của một quốc gia, mà còn là cơ sở cho một phương thức quản lý thống nhất, bình đẳng đối với các loại hình sản xuất kinh doanh trong xã hội. Ở Việt Nam cũng có những cách hiểu khác nhau về phạm vi kinh tế tư nhân: - Thuộc về khu vực kinh tế tư nhân gồm các doanh nghiệp tư nhân trong nước và các doanh nghiệp có vốn nước ngoài dưới dạng liên doanh hay 100% vốn nước ngoài. Các doanh nghiệp tư nhân trong nước bao hàm cả các hợp tác xã nông nghiệp và các doanh nghiệp phi nông nghiệp. Việc hiểu khu vực kinh tế tư nhân theo nghĩa rộng như vậy tạo cơ sở đánh giá hết tiềm năng của khu vực kinh tế này đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam, song lại gặp khó khăn trong thống kê, khi muốn tách bạch được phần góp vốn của nhà nước trong các công ty cổ phần, cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Hơn nữa, theo cách phân biệt này, việc phân tích đôi khi sẽ khó khăn bởi không phải tất cả các bộ phận trong khu vực kinh tế tư nhân đều được nhà ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -9- ----------------------------------------------------------------------------------------------------- nước đối xử như nhau. Các doanh nghiệp nước ngoài nhìn chung luôn nhận được những điều kiện thuận lợi hơn các doanh nghiệp tư nhân trong nước, như công ty trách nhiệm hữu hạn, hộ kinh doanh cá thể. - Khu vực kinh tế tư nhân cũng có thể được hiểu là khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Cách nhìn này dựa trên việc chia nền kinh tế thành 3 khu vực kinh tế: khu vực kinh tế quốc doanh (hay khu vực kinh tế nhà nước), khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
Thực tế cho thấy việc đưa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra khỏi khu vực kinh tế tư nhân trong nước sẽ không đánh giá đúng tiềm năng, cũng như vai trò của khu vực này cho sự phát triển kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay. - Khu vực kinh tế tư nhân bao gồm các loại hình doanh nghiệp tư nhân trong nước, nhưng không bao hàm kinh doanh cá thể. Cách hiểu này bộc lộ nhiều hạn chế, tuy nhiên các số liệu thống kê thực tế của Việt Nam thường phân loại theo cách này. Các loại hình doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh.
Các loại doanh nghiệp này là hình thức tồn tại của thành phần kinh tế tư bản tư nhân, dựa trên sở hữu tư nhân lớn về tư liệu sản xuất. Theo quan điểm của tôi, để đánh giá đúng tiềm năng của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam, trong phân tích tôi cho rằng khu vực kinh tế tư nhân bao gồm khu vực kinh tế ngoài quốc doanh (doanh nghiệp dân doanh) và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI). Kinh tế tư nhân cần được hiểu là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất. Đặc trưng mang tính bản chất của những ------------------------------------------------------------------------------------------------------------- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -10- ----------------------------------------------------------------------------------------------------- doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân là họ sử dụng đồng vốn của chính họ và họ có quyền được hưởng thành quả lao động mà họ làm ra.
Nhưng do các số liệu được sử dụng là số liệu thống kê của Việt Nam nên trong phần phân tích khu vực kinh tế tư nhân được hiểu là các doanh nghiệp dân doanh.