CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Đo lường thành quả hoạt động bằng thước đo tài chính và thước đo phi tài chính Môi trường kinh doanh của Việt Nam luôn thay đổi trong suốt những năm gần đây. Các nhà quản lý doanh nghiệp phải đối mặt với một môi trường cạnh tranh ngày càng cao và phức tạp. Vì vậy, yêu cầu cần phải có những đổi mới trong việc quản lý và kinh doanh, đặc biệt là công việc đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp.
“Mục đích cơ bản đằng sau mọi phép đo lường đánh giá là để cải thiện kết quả và nâng cao hiệu quả. Các phép đo lường đánh giá mà không trực tiếp cải thiện hiệu quả thì cũng là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng đó” (Banker, 2000). “Chỉ khi nào bạn đo lường được những điều bạn nói và thể hiện nó trên con số, bạn mới hiểu đôi điều về nó.” (Bushman, 1996) “Bạn chỉ có thể quản lý được những gì bạn đo lường được.” (Amir, 1996) Hai câu nói trên nêu lên được tầm quan trọng của đánh giá thành quả hoạt động. Trong quá trình không ngừng hoàn thiện mình của một tổ chức, đánh giá thành quả hoạt động đóng vai trò quan trọng giúp nhận diện và theo dõi tiến trình hiện thực hóa mục tiêu của tổ chức, nhận diện những cơ hội để cải thiện kết quả, so sánh kết quả của tổ chức với các tiêu chuẩn nội bộ và bên ngoài.
Từ đó, có thể thấy việc đánh giá thành quả hoạt động nhằm phục vụ nhiều mục tiêu như: - Chúng là một phần của chiến lược mỗi tổ chức, giúp nhận định mức độ hoàn thành mục tiêu chiến lược. - Chúng được sử dụng bởi nhà quản trị khi ra quyết định phân bổ nguồn lực và xác định mức độ hoạt động phù hợp. - Đánh giá thành quả hoạt động giúp tập trung các nỗ lực của tổ chức vào mục tiêu được ưu tiên, giám sát các nỗ lực đó. - Là một kênh thông tin giúp chiến lược của tổ chức thông suốt qua các cấp.
–2– Công tác đánh giá thành quả hoạt động được thực hiện bằng cách xác định và đo lường các chỉ tiêu phù hợp với đặc điểm hoạt động và mục tiêu của tổ chức. Các chỉ tiêu này phản ánh nhân tố quyết định đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp và có thể nằm dưới dạng các thước đo tài chính và phi tài chính. Thước đo tài chính 1. Đặc điểm Các thước đo tài chính là những chỉ tiêu đánh giá có thể trình bày bằng đơn vị tiền tệ hoặc là những hệ số tài chính được tính toán từ những chỉ tiêu tiền tệ.
Khi nhắc đến các chỉ tiêu đo lường hoạt động bằng đơn vị tiền tệ của một doanh nghiệp, chúng ta có thể thấy hầu hết những chỉ tiêu đó đều nằm trong báo cáo tài chính và bắt buộc công bố trong GAAP trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, những chỉ tiêu tiền tệ về tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình lưu chuyển tiền tệ đều được yêu cầu trình bày đầy đủ trong bộ báo cáo tài chính định kỳ của doanh nghiệp. Có thể kể đến những chỉ tiêu mà người sử dụng thông tin thường quan tâm như tổng tài sản, vốn luân chuyển, vốn chủ sở hữu, doanh thu, lợi nhuận, cổ tức và lợi nhuận chưa phân phối. Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các hệ số tài chính được phân thành nhiều nhóm chỉ tiêu đặc trưng, phản ánh nội dung cơ bản theo mục tiêu phân tích của doanh nghiệp.
Nhưng nhìn chung có 4 nhóm chỉ tiêu cơ bản sau: - Nhóm chỉ tiêu khả năng thanh toán: Nhóm chỉ tiêu này thể hiện được năng lực thanh toán của doanh nghiệp. Đây là nhóm chỉ tiêu được nhiều người quan tâm như: các nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu,… bởi lẽ họ luôn đặt ra câu hỏi là hiện doanh nghiệp có đủ khả năng trả các món nợ tới hạn không. Nhóm chỉ số này bao gồm các chỉ tiêu như: hệ số khả năng thanh toán hiện hành, hệ số khả năng thanh toán nhanh, hệ số khả năng thanh toán nợ dài hạn, hệ số khoản phải thu trên khoản phải trả, hệ số khả năng thanh toán lãi vay. - Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư: Các doanh nghiệp luôn thay đổi tỷ trọng các loại vốn theo xu hướng hợp lý (kết cấu tối ưu).
Nhưng kết cấu này luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư. Vì vậy nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Các hệ số tài chính trong nhóm này bao gồm: hệ số nợ, hệ số –3– vốn chủ sở hữu (tỷ suất tự tài trợ), tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn, tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định, tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn. - Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động: Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các loại tài sản khác nhau.
Nằm trong nhóm này gồm có các chỉ tiêu: số vòng quay hàng tồn kho, số ngày dự trữ hàng tồn kho, số vòng quay các khoản phải thu, kỳ thu tiền bình quân, số vòng quay tài sản ngắn hạn, hiệu suất sử dụng tài sản dài hạn, số vòng quay tổng tài sản. - Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời: Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp. Khi phân tích, lợi nhuận được đặt trong tất cả mối quan hệ với doanh thu, tài sản, vốn chủ sở hữu. Mỗi góc độ phân tích đều cung cấp cho nhà phân tích một ý nghĩa cụ thể trong việc ra quyết định.
Tùy theo từng góc độ phân tích mà nhà phân tích có thể sử dụng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ngoài bốn nhóm chỉ tiêu trên, thông tin tài chính của doanh nghiệp còn được sử dụng như các chỉ tiêu đánh giá khi so sánh theo chiều ngang (đánh giá tăng trưởng, biến động qua thời kỳ) hay theo chiều dọc (so sánh cơ cấu từng bộ phận trên tổng thể toàn công ty, công ty so với đối thủ hay toàn ngành). Hay các hệ số trong nhóm chỉ tiêu sinh lời được tổng hợp trong mô hình phân tích Dupont giúp tiếp cận, chỉ ra các nguyên nhân của hiện tượng đó thông qua phân tích một tỷ lệ sơ cấp (phản ánh hiện tượng), thành tích của các tỷ lệ thứ cấp (phản ánh nguyên nhân). Doanh nghiệp có thể chuyển hóa các thông tin này thành hệ số phục vụ cho từng mục tiêu trong công tác đánh giá hoạt động của mình.
Ưu điểm và nhược điểm Ưu điểm của thước đo tài chính: Thước đo tiền tệ và các hệ số tài chính có lợi thế chính là có tính so sánh được cao, không chỉ có khả năng đánh giá tính hiệu quả và năng lực của những bộ phận khác nhau trong cùng một tổ chức (như marketing, sản xuất, kỹ thuật.) mà còn có thể giúp so sánh các công ty hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau, từ những doanh nghiệp bán lẻ đến các công ty bưu chính viễn thông hay các hãng lữ hành. –4– Cũng chính nhờ lợi thế đồng nhất này, thông tin tài chính có thể được biến tấu thành nhiều chỉ tiêu đánh giá chất lượng rất đa dạng để phục vụ công tác đánh giá thành quả cũng như phân tích hoạt động của doanh nghiệp. Nhược điểm của thước đo tài chính: Thứ nhất, thước đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ các thông tin để đo lường, đánh giá thành quả hoạt động doanh nghiệp. Đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp theo thước đo tài chính truyền thống được thể hiện qua các báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, báo cáo tài chính được xây dựng trên những chứng từ và dữ liệu của các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh. Do đó, các báo cáo tài chính chỉ thể hiện được những thành quả trong quá khứ của doanh nghiệp, không phản ánh được tiềm năng của doanh nghiệp trong tương lai để đánh giá đúng tiềm năng và triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai. Bên cạnh đó, báo cáo tài chính chỉ đưa ra kết quả cuối cùng mà rất hạn chế để thấy được những nguyên nhân dẫn đến kết quả đó. Từ đó, nhà quản trị gặp khó khăn khi họ hoạch định chiến lược trong tương lai.
Thứ hai, thước đo tài chính truyền thống thường dẫn đến xu hướng quá chú trọng vào lợi ích ngắn hạn mà bỏ qua hoặc thậm chí đánh đổi lợi ích trong dài hạn. Đôi khi, các thông tin kế toán có thể bị bóp méo để phục vụ những mục đích tài chính ngắn hạn. Những thước đo tài chính truyền thống mà đa phần người sử dụng thông tin – các nhà đầu tư ngoài doanh nghiệp – được lấy từ báo cáo tài chính do doanh nghiệp đó cung cấp. Trong nhiều trường hợp, vì những mục tiêu ngắn hạn như muốn thu hút nhà đầu tư bằng một EPS cao, hay chứng minh doanh nghiệp hoạt động hiệu quả bằng cách cắt giảm chi phí để có ROE cao mà doanh nghiệp đã thực hiện nhiều biện pháp vô tình gây tổn thương cho các mục tiêu dài hạn.
Cụ thể, trong một doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong thị trường cạnh tranh, muốn “làm đẹp” báo cáo tài chính để có thể thu hút đầu tư, doanh nghiệp cắt giảm chi phí nhân công hay các chi phí bán hàng (khuyến mãi, marketing,…), chi phí nghiên cứu phát triển. Với hành động trên, doanh nghiệp đã đẩy mức lợi nhuận lên cao nhằm thu hút đầu tư. Tuy nhiên, về lâu dài nhân công chán nản với mức sống thấp, lượng tiêu thụ hàng hóa giảm do không có chính sách kích thích tiêu thụ và bị thu hẹp thị phần hay sản phẩm không có những cải tiến. Rõ ràng, những hành động này ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích doanh nghiệp lâu dài.
Một trường hợp khác, khi doanh nghiệp muốn –5– vay ngân hàng, nhà quản trị có thể cố tình bóp méo số liệu bằng những thủ thuật của kế toán để tạo ra báo cáo tài chính đủ sức thuyết phục. Cuối cùng, khi lợi nhuận doanh nghiệp tạo nên không đủ để bù đắp chi phí lãi vay, giá trị nội tại của doanh nghiệp sẽ suy giảm do những khoản thiệt hại ăn mòn vốn.