CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, TONG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ XÂY DUNG GIÁ THUYET NGHIÊN CUU 1. Co sở lý luận 1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm Khái niệm TNXH doanh nghiệp cho đến nay vẫn là một khái niệm gây nhiều tranh cãi, mặc dù đã có nhiều nghiên cứu nhằm mục tiêu đưa ra một định nghĩa thống nhất và rõ rang vé TNXH doanh nghiệp, bởi bản than khái nệm nay là một thuật ngữ không rõ ràng, rắc rối với nhiều tầng ý nghĩa khác nhau (Nasrullah và Rahim, 2014).
Qua nhiều năm phát triển, đến nay, có khá nhiều định nghĩa về TNXH, tuy nhiên chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi, mỗi định nghĩa lại có ý nghĩa và cách tiếp cận riêng. Bowen (1953) trong cuốn “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” cho rằng “các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh phải đưa ra các quyết định có trách nhiệm với cộng đồng, hướng đến giá trị cho xã hội, và doanh nghiệp phải có nghĩa vụ đối với cộng đồng đã hỗ trợ doanh nghiệp. Doanh nghiệp tạo ra sản phẩm cho xã hội cần đáp ứng 4 yếu tố: nâng cao mức sống của người dân, tạo động lực phát triển kinh tế, đảm bảo công bằng, tự đo và sau cùng là phát triển toàn diện nhân cách của mỗi cá nhân”. Ngược lại, Friedman (1970) cho rằng “doanh nghiệp chỉ có duy nhất 1 trách nhiệm đó là tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khô luật choi của thị trường và không bao gồm các hành động dẫn đến sự hiểu lầm và gian lận”.
Tác giả đưa ra ý kiến rằng cho việc doanh nghiệp tham gia vào thực hiện TNXH gây ra xung đột về lợi ích giữa nhà quản lý và các cổ đông. Trong khi các nhà quản lý nỗ lực thực hiện các hoạt động TNXH như 1 cách dé làm nổi bật bản thân trong mắt chính quyền, các chủ nợ và cộng đồng thì điều đó lại làm ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích của các cô đông. Carroll (2004) định nghĩa rằng “TNXH của doanh nghiệp bao hàm các kỳ vọng của xã hội về kinh tế, pháp luật, đạo đức và thiện nguyện mà một doanh nghiệp cần đáp ứng tại một thời điểm nhất định”. Nhận định này đã đóng góp một cách hiéu sâu 10 sắc về TNXH của doanh nghiệp.
Trong mô hình kim tự tháp mô tả khái niệm TNXH của minh, Carroll chia TNXH làm bốn miền lần lượt là: kinh tế, pháp luật, đạo đức và từ thiện, hàm ý rằng doanh nghiệp được coi như một thực thể kinh tế tồn tại trong xã hội, do đó chức năng cơ bản nhất là đảm bảo các mục tiêu kinh tế, sau đó doanh nghiệp cần có trách nhiệm pháp luật, tiếp theo là đáp ứng trách nhiệm về mặt đạo đức và cuối cùng, nếu đủ nguồn lực thì doanh nghiệp sẽ phải đáp ứng trách nhiệm thiện nguyện. Malik (2015) định nghĩa “TNXH của doanh nghiệp là các hoạt động tự nguyện của doanh nghiệp đối với các bên liên quan khác nhau, chắng hạn như khách hàng, nhà cung cấp, cơ quan quản lý, nhân viên, nhà đầu tư và cộng đồng”. Trong khi McWilliams va Siegel (2001) lại cho rang “TNXH của doanh nghiệp là các hành động xuất hiện dé mang lại lợi ích xã hội, vượt lên lợi ích của chính doanh nghiệp và được pháp luật yêu cầu”. Khoury va Rostami (1999) lập luận rằng “TNXH của doanh nghiệp là cách thức hòa hợp giữa công ty trong mối quan hệ với tất cả các bên liên quan bao gồm các khách hàng, nhân viên, cộng đồng, nhà đầu tư, chính phủ, các nhà cung cấp và đối thủ cạnh tranh.
Các yếu tô tạo nên TNXH bao gồm linh hoạt trong sản xuất và duy trì việc làm trong quan hệ lao động, hoạt động cộng đồng, quản lý môi trường và lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp từ các hoạt động đó”. Maignan và Ferrell (2004) cũng đồng quan điểm khi đưa ra khái niệm về TNXH doanh nghiệp là “Một doanh nghiệp có TNXH khi các quyết định và hoạt động của nó dựa trên ý muốn tạo ra và cân bang cac loi ich khac nhau cua cac bén lién quan dén doanh nghiệp” Hiện nay, có hai quan điểm về TNXH doanh nghiệp được rất nhiều các nhà nghiên cứu, các học giả đồng tình và chấp nhận. Thứ nhất là quan điểm của Ủy ban Cộng đồng Liên minh Châu Âu cho rằng “TNXH doanh nghiệp là các doanh nghiệp tình nguyện mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp, không chỉ dừng lại ở tối ưu hóa lợi nhuận mà trải rộng ra lĩnh vực môi trường và xã hội trong mối quan hệ với các bên liên quan”. Thứ hai là quan điểm cho rằng, TNXH của doanh nghiệp không đơn thuần là một hành động từ thiện tự nguyện mà là một đặc điểm cốt lõi, trọng tâm 11 của doanh nghiệp.
Tại đó, mọi hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm hoạt động tạo ra lợi nhuận đều phải được xem xét trong mối quan hệ khăng khít với môi trường và xã hội. Về cơ bản, hai quan điểm trên đều hướng đến một mục đích là cải thiện xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, chỉ có sự khác nhau ở tính chất bắt buộc trong việc thực hiện TNXH (Tran Thị Hoàng Yến, 2016). Hội đồng doanh nghiệp thế giới về phát triển bền vững (WBCSD, 2000) cũng coi “TNXH của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp trong việc hoạt động kinh doanh có đạo đức và đóng góp vào sự phát triển kinh tế, cùng với đó là cam kết nâng cao chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng địa phương và rộng hơn là của toàn xã hội nói chung”. Năm 2010, bộ tiêu chuẩn ISO 26000 đã chi rõ 7 nhân tố cốt lõi trong TNXH doanh nghiệp : (i) Quản trị doanh nghiệp nhằm đảm bảo lợi ích cho cô đông; (ii) Tôn trọng nhân quyền; (iii) Quan hệ và đối xử tốt với người lao động; (iv) Bảo vệ môi trường; (v) Công băng trong hoạt động: (vi) Bảo đảm an toàn và lợi ích cho người tiêu dùng; (vii) Tham gia và phát triển các cộng đồng xã hội.
Như vậy, các định nghĩa về TNXH doanh nghiệp bao gồm một loạt các trách nhiệm mà doanh nghiệp cần tính đến khi hoạt động sản xuất kinh doanh, như các trách nhiệm về xã hội, môi trường và kinh tế. Ngoài ra, TNXH của doanh nghiệp còn bao gồm việc có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của các bên liên quan như cô đông, khách hàng, nhân viên, nhà đầu tư và cộng đồng địa phương. Tại Việt Nam, theo cách hiểu truyền thông, TNXH doanh nghiệp được xem là các hoạt động từ thiện và những việc làm “người tốt, việc tốt” cho cộng đồng như: giúp đỡ người nghèo, trẻ em mồ côi, xây dựng nhà tình nghĩa hay ủng hộ đồng bao bị lũ lụt. Chính vì thế mà đôi khi có những doanh nghiệp quên đi việc chăm lo đời sống, điều kiện làm việc, lương, thưởng của người lao động.
TNXH trong doanh nghiệp hiện nay nên được tuyên truyền rộng rãi dé được hiểu là việc tạo ra lợi ích và đồng thời cân bằng giữa các yếu tố kinh tế, môi trường làm việc và quan hệ xã hội. Nó cũng đảm bảo đáp ứng các kỳ vọng của cô đông, nhân viên, khách hàng và các bên đối tác, nhằm thúc day sự phát triển kinh tế bền vững của doanh nghiệp. “Doanh nghiệp phải thê hiện TNXH doanh nghiệp bằng việc tuân thủ các tiêu chuẩn về bảo 12 vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi đào tạo và phát triển nhân lực, phát triển cộng đồng, đảm bảo chất lượng sản phẩm. theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội” (Dương Thúy Nga, 2021).
Vai trò của TNXH doanh nghiệp “Theo lý thuyết các bên liên quan, mục tiêu chính của doanh nghiệp là dé cân bằng sự mong đợi của tất cả các bên liên quan thông qua các hoạt động kinh doanh của họ” (Ansoff, 1965). Một khía cạnh cơ bản của khuôn khổ TNXH của doanh nghiệp là cách thức mà doanh nghiệp tương tác với cô đông, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, chính phủ, tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế và các bên liên quan khác. “Lý thuyết các bên liên quan có thể được xem là lý thuyết TNXH doanh nghiệp, bởi vì nó mang lại một khung quy chuẩn cho các doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội” (Melé, 2008). Vai trò của việc thực hiện TNXH doanh nghiệp đối với các bên liên quan này bao gồm: $% Các cỗ đông Các cô đông là những người sở hữu cô phan trong công ty dưới dang cổ phiếu, trái phiếu và họ mong muốn được hưởng một phan lợi nhuận của công ty chia cho các cô phiếu của họ.
Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với cô đông là công bố thông tin minh bạch, điều hành công ty hiệu quả và sử dụng nguồn vốn và tài sản một cách hợp lý, nhằm mục đích tạo ra gia tri gia tăng và dam bảo sự phát triển bền vững của chính doanh nghiệp. Việc thực hiện trách nhiệm này một cách hợp lý sẽ xây dựng lòng tin từ phía các cổ đông, các nhà đầu tư và giảm thiểu các xung đột lợi ích trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. ¢ Các nhà cung cấp Nhà cung cấp là một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng của doanh nghiệp, giữ vai trò đảm bảo nguồn hàng cung cấp cho hoạt động kinh doanh. Nếu không có nhà cung cấp, doanh nghiệp sẽ không thể tiến hành sản xuất, cung cấp hàng hóa cho người tiêu dùng.
Các doanh nghiệp có trách nhiệm chỉ trả tiền hàng cho các nhà cung câp đủ sô tiên và thanh toán càng sớm càng tôt, tránh việc đê nợ nhà cung 13 cấp quá lâu, điều này sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền của nhà cung cấp, gây ra khó khăn cho hoạt động của họ và có thé gây đứt gãy chuỗi cung ứng cho doanh nghiệp. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm trả tiền cho nhà cung cấp sẽ khiến mỗi quan hệ đôi bên xấu đi, nhà cung cấp sẽ tránh hợp tác với doanh nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần thực hiện đủ TNXH với nhà cung cấp đề thiết lập mỗi quan hệ chặt chẽ và tích cực với họ, đảm bảo cho việc hợp tác lâu dài và bền vững. “+ Khách hàng Khách hàng là người mua hàng hóa của công ty và nhận lại được những lợi ich của sản phẩm.