CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Quản lý chuỗi cung ứng Khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng đang nhận được sự quan tâm ngày càng gia tăng từ các nhà nghiên cứu, chuyên gia tư vấn và các nhà quản lý doanh nghiệp. Đây là một khái niệm tổng hợp được đề cập và tổng quan nghiên cứu trên các khía cạnh về quản lý, chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng.
Quản lý Có khá nhiều quan điểm xung quanh cách hiểu về quản lý theo các cách tiếp cận khác nhau, trong đó có thể kể đến những quan điểm điển hình sau đây. Trước hết, xét về mặt chức năng, định nghĩa quản lý được sử dụng nhiều nhất được đưa ra bởi Henry Fayol. Theo Henry Fayol (T.2): “quản lý là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, phối hợp và kiểm soát”. Hay "quản lý có nghĩa là dẫn dắt doanh nghiệp đến mục tiêu đạt được những tiến bộ tối đa từ các nguồn lực sẵn có".3) cho rằng “quản lý có nghĩa là ra quyết định”.4) gợi ý “quản lý được hiểu là nhiệm vụ lập kế hoạch, điều phối, thúc đẩy và kiểm soát những nỗ lực của người khác hướng tới một mục tiêu cụ thể”.
Knootz và O hèDonnel (T.4) xác định quản lý là việc tạo và duy trì môi trường nội bộ trong một doanh nghiệp - nơi các cá nhân làm việc theo nhóm một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu của nhóm. Trong một hướng tiếp cận khác, cụ thể là xét về mặt quá trình, Joseph L.3) phát biểu “quản lý là quá trình mà một nhóm hợp tác chỉ đạo các hành động hướng tới các mục tiêu chung”.3) chỉ ra về bản chất, “quản lý đơn giản là quá trình ra quyết định và kiểm soát hành động của con người với mục đích rõ ràng là đạt được các mục tiêu đã định sẵn”. Schulze và Ordway Tead (T.4) cùng chung quan điểm quản lý là quy trình dẫn dắt, hướng dẫn và chỉ đạo một tổ chức trong việc hoàn thành công việc đã được định trước hay thực hiện các mục tiêu đã thiết lập. 12 Như vậy, có thể thấy các định nghĩa ở trên có sự tương đồng và cũng có sự khác biệt song tác giả tổng kết lại khái niệm về quản lý nhấn mạnh chức năng hướng dẫn, chỉ đạo và trọng tâm nhắm vào các mục tiêu đã được định sẵn.
Hay nói cách khác, nó liên quan đến quy trình hướng doanh nghiệp vào vấn đề làm thế nào để đạt được các mục tiêu đó. Chuỗi cung ứng Tổng quan tài liệu cho thấy có khá nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng, chẳng hạn như Christopher (1992) cho rằng chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức có liên quan, thông qua mối liên kết ngược dòng và xuôi dòng, trong các quy trình và hoạt động khác nhau tạo ra giá trị dưới dạng hàng hóa/dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng. Hay Min và Zhou (2002) lại quan niệm nó là hệ thống tích hợp đồng bộ hóa một loạt các quy trình kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau để: (1) cung cấp các nguyên liệu thô và bộ phận; (2) biến đổi các nguyên liệu thô và bộ phận thành thành phẩm; (3) hoạt động gia tăng giá trị sản phẩm; (4) phân phối và quảng bá sản phẩm cho nhà bán lẻ hoặc người tiêu dùng; (5) trao đổi thông tin giữa các thực thể kinh doanh khác nhau (như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp dịch vụ logistics và nhà bán lẻ). Có thể thấy tồn tại hai cách nhìn khác nhau của hai nhóm tác giả khi xem xét trọng tâm của chuỗi cung ứng, cụ thể là nhóm thứ nhất tập trung vào sự tích hợp trong quy trình được chỉ ra bởi Bowersox (1969), Ellram (1991), Christopher (1992), Lee và Billington (1992), Ganeshan và Harrison (1995), Kopczak (1997), Beamon B (1998), Lambert, Stock và Ellram (1998), Chow, D., Witt, WD, Keebler, J.
Trong khi đó, nhóm thứ hai hướng tới lợi ích của người tiêu dùng như Chikán (1997), Lambert, Cooper và Pagh (1998), Ayers, J. Tóm lại, điểm quan trọng trong các khái niệm về chuỗi cung ứng mà tác giả rút ra và áp dụng vào luận án này là có nhiều doanh nghiệp được liên kết với nhau và được chuyên môn hóa theo chức năng tương ứng với từng giai đoạn, thông qua đó làm gia tăng giá trị sản phẩm, đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia vào chuỗi cung ứng. Quản lý chuỗi cung ứng Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu nhận ra rằng quản lý chuỗi cung ứng là chìa khóa để xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững cho các hàng hóa và dịch vụ của họ trong một 13 thị trường ngày càng đông đúc. Sự hiểu biết và thực hành về quản lý chuỗi cung ứng trở thành một điều kiện tiên quyết để đạt được mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận đối với tất cả các doanh nghiệp.
Khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng được xem xét từ nhiều quan điểm như mua và bán, logistics và vận chuyển, quản lý hoạt động, marketing, lý thuyết tổ chức và hệ thống thông tin quản lý. Thuật ngữ quản lý chuỗi cung ứng lần đầu tiên được đặt ra bởi một nhóm các nhà tư vấn vào đầu những năm 1980. Nó ngày càng trở nên phổ biến bởi nguồn cung toàn cầu tăng, yêu cầu hợp tác chặt chẽ hơn với các nhà cung cấp về phát triển sản phẩm mới và nhu cầu của khách hàng để cung cấp hàng hóa, dịch vụ với chi phí rẻ hơn và tốc độ nhanh hơn (Mentzer và cộng sự, 2001). Tuy nhiên, định nghĩa về quản lý chuỗi cung ứng đang còn có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.
Croom và cộng sự (2000) đã chỉ ra rằng lý do quan trọng nhất cho việc thiếu một định nghĩa cụ thể xuất phát từ nguồn gốc và sự tiến hóa đa ngành của khái niệm. Thống kê các công trình nghiên cứu cho thấy các tác giả khác nhau xem xét thuật ngữ quản lý chuỗi cung ứng từ một loạt định hướng dẫn đến có ít sự nhất quán về cách hiểu và sử dụng khái niệm này. Bằng chứng là rất nhiều định nghĩa được nhắc đến. Ở giai đoạn sơ khai, Oliver và Webber (1982) nhấn mạnh quản lý chuỗi cung ứng là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các hoạt động của chuỗi cung ứng với mục đích đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách hiệu quả nhất có thể.
Quản lý chuỗi cung ứng bao gồm tất cả sự di chuyển và lưu trữ nguyên liệu thô, hàng tồn kho trong quá trình làm việc và hàng hóa thành phẩm từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ. Sau đó, Christopher (1998) cũng cung cấp thêm lập luận quản lý chuỗi cung ứng chính là một phần mở rộng logic của logistics. Quản lý chuỗi cung ứng có thể được phân thành ba loại khác nhau: (1) triết lý quản lý, (2) thực hiện triết lý quản lý và (3) một bộ quy trình quản lý. Các hoạt động cần thiết để thực hiện triết lý quản lý chuỗi cung ứng này như một triết lý có cách tiếp cận hệ thống, xem chuỗi cung ứng là một thực thể thống nhất, duy nhất chứ không phải là các phần rời rạc.
Trong chuỗi cung ứng, các tổ chức có một niềm tin về mục đích cốt lõi của họ là hợp tác cùng nhau để cải thiện hiệu suất tổng thể chuỗi cung ứng và tạo ra giá trị khách hàng. Ở một vài nghiên cứu, quản lý chuỗi cung ứng chỉ đơn giản xem xét luồng luân chuyển giữa các giai đoạn trong chuỗi cung ứng được chỉ ra bởi Oliver và Webber (1982), Ayers, JB. Trong khi đó ở các nghiên cứu còn lại, nhiều tác giả đã phát triển và mở rộng quan điểm tập trung vào mối quan hệ hợp tác giữa các nhà cung cấp và hợp tác với khách hàng (Berry và cộng sự, 1994; Tan 14 và cộng sự, 1998; Computerworld, 2001; Bowersox, Closs và Cooper, 2002; Simchi- Levi, D., 2003; Sweeney, 2007; Bozarth và Handfield, 2008). Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn ghi nhận sự khác biệt nữa về mục tiêu của quản lý chuỗi cung ứng: có những chuyên gia chỉ hướng tới việc đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng như Oliver và Webber (1982), Ayers, JB.
Mặc dù mỗi định nghĩa nhấn cụ thể vào một điểm cốt lõi khác nhau nhưng có một điểm chung là đều coi trọng môi trường bên ngoài của doanh nghiệp. Qua tổng quan ở trên có thể thấy quản lý chuỗi cung ứng là việc lên kế hoạch và kiểm soát quy trình liên kết các đối tác trong chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, đáng tin cậy, đạt hiệu quả tối ưu về chi phí và tính linh hoạt, cụ thể: cung cấp đúng mặt hàng, giao hàng đến đúng địa điểm, đúng số lượng, đúng thời điểm yêu cầu và với mức giá phù hợp. Song mục tiêu của quản lý chuỗi cung ứng không chỉ dừng lại ở việc gia tăng đóng góp giá trị cho khách hàng mà còn thể hiện thông qua cải thiện năng lực cạnh tranh, tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Điều này đồng nghĩa với các doanh nghiệp sẽ hợp tác chặt chẽ nhằm đem đến kết quả có lợi cho tất cả các bên bao gồm cả khách hàng.
Do đó, để đạt được mục tiêu cuối cùng này, cần phải tích hợp và đồng bộ hóa các hoạt động của những thực thể tham gia chuỗi cung ứng ở tất cả các cấp, từ chiến lược đến vận hành. Quản lý chuỗi cung ứng xanh 1. Chuỗi cung ứng xanh Khái niệm chuỗi cung ứng xanh là một khái niệm đa ngành, chủ yếu xuất phát từ việc thực hiện quản lý môi trường trong bối cảnh chuỗi cung ứng (Walton, Handfield và Melnyk, 1998; Sarkis, 2006). Tương tự, Beamon (1999) cũng nhận định rằng chuỗi cung ứng xanh được tạo ra bằng cách mở rộng chuỗi cung ứng truyền thống bao gồm các hoạt động giảm thiểu tác động tới môi trường của sản phẩm trong toàn bộ chu kỳ, như thiết kế sinh thái, tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu nguyên liệu có hại, tái chế và tái sử dụng sản phẩm.
Youni và cộng sự (2016) bổ sung thêm cách hiểu “chuỗi cung ứng xanh là chuỗi cung ứng tạo ra sản phẩm có thể phân hủy được, sử dụng tối thiểu các nguồn lực trong khi phát sinh lượng chất thải thấp nhất”. Hay Penfield (trích dẫn trong Ban quản lý dự án “Tăng cường năng lực lồng ghép phát triển bền vững và biến đổi 15 khí hậu trong công tác lập kế hoạch tại Việt Nam”,2015, tr.