Luận án tiến sĩ mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành xây dựng tại việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành xây, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Chuyên ngành

Kinh Tế Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

239
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

1.2. Quản lý chuỗi cung ứng

1.3. Quản lý chuỗi cung ứng xanh

1.4. Các thực hành quản lý chuỗi cung ứng xanh

1.5. Kết quả hoạt động của doanh nghiệp

1.6. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

1.6.1. Quan điểm 1: Các nghiên cứu chỉ ra quản lý chuỗi cung ứng xanh không có tác động tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp

1.6.2. Quan điểm 2: Các nghiên cứu chỉ ra quản lý chuỗi cung ứng xanh có tác động tiêu cực tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp

1.6.3. Quan điểm 3: Các nghiên cứu chỉ ra quản lý chuỗi cung ứng xanh có tác động tích cực tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp

1.7. Tổng quan một số nghiên cứu về quản lý chuỗi cung ứng xanh của các doanh nghiệp ngành xây dựng

1.8. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

2.1. Các lý thuyết tổ chức áp dụng cho chủ đề quản lý chuỗi cung ứng xanh

2.2. Ứng dụng thuyết dựa vào nguồn lực trong nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

2.2.1. Quan điểm dựa vào nguồn lực (Resource-Based View)

2.2.2. Quan điểm dựa vào kiến thức (Knowledge-Based View)

2.2.3. Quan điểm về các mối quan hệ (Relational View)

2.3. Sơ đồ chuỗi cung ứng ngành xây dựng

2.4. Mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp

2.4.1. Nội dung mô hình

2.4.2. Các giả thuyết nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Tóm tắt quy trình nghiên cứu

3.2. Các bước của quy trình nghiên cứu

3.3. Nghiên cứu định tính

3.4. Nghiên cứu định lượng sơ bộ

3.5. Nghiên cứu định lượng chính thức

3.6. Phương pháp chọn mẫu chính thức

3.7. Phương pháp thu thập dữ liệu chính thức

3.8. Xây dựng thang đo sơ bộ

3.8.1. Thang đo sơ bộ lần 1

3.8.2. Thang đo sơ bộ lần 2

3.8.3. Kiểm định thang đo sơ bộ lần 2 (tức sau hiệu chỉnh)

3.9. Kết quả kiểm định thang đo quản lý chuỗi cung ứng xanh

3.10. Kết quả kiểm định thang đo Kết quả hoạt động của doanh nghiệp

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH XÂY DỰNG TẠI VIỆT NAM

4.1. Thực trạng chung về quản lý chuỗi cung ứng xanh lĩnh vực xây dựng

4.1.1. Thực trạng trên thế giới

4.1.2. Thực trạng tại Việt Nam

4.2. Kết quả kiểm định thang đo

4.2.1. Kiểm định độ tin cậy của thang đo

4.2.2. Phân tích nhân tố khám phá

4.2.3. Kiểm tra phương sai từ một nguồn (Common Method Variance)

4.2.4. Phân tích nhân tố khẳng định

4.3. Thống kê mô tả biến nghiên cứu

4.3.1. Biến quản lý chuỗi cung ứng xanh

4.3.2. Biến kết quả hoạt động

4.4. Kết quả đánh giá mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng

4.4.1. Mối quan hệ trực tiếp

4.4.2. Mối quan hệ gián tiếp

4.5. Sự khác biệt về kết quả hoạt động theo đặc điểm doanh nghiệp

4.5.1. Sự khác biệt theo loại hình doanh nghiệp

4.5.2. Sự khác biệt theo quy mô doanh nghiệp

4.5.3. Sự khác biệt theo thời gian hoạt động của doanh nghiệp

5. CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT KHUYẾN NGHỊ

5.1. Xu hướng phát triển của doanh nghiệp ngành xây dựng

5.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

5.3. Đề xuất khuyến nghị

5.3.1. Đối với nhà cung cấp

5.3.2. Đối với doanh nghiệp xây dựng (nhà thầu)

5.3.3. Đối với nhà tư vấn thiết kế

5.3.4. Đối với khách hàng

5.3.5. Đối với cơ quan Nhà nước

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mối Quan Hệ Giữa Quản Lý Chuỗi Cung Ứng Xanh và Hiệu Quả Doanh Nghiệp

Mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanhhiệu quả doanh nghiệp trong ngành xây dựng tại Việt Nam đang trở thành một chủ đề nóng. Ngành xây dựng, với vai trò quan trọng trong nền kinh tế, cũng là một trong những ngành gây ra nhiều tác động tiêu cực đến môi trường. Việc áp dụng các phương pháp quản lý chuỗi cung ứng xanh không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu này sẽ phân tích các khía cạnh khác nhau của mối quan hệ này, từ lý thuyết đến thực tiễn.

1.1. Khái Niệm Quản Lý Chuỗi Cung Ứng Xanh Trong Ngành Xây Dựng

Quản lý chuỗi cung ứng xanh trong ngành xây dựng được hiểu là việc áp dụng các phương pháp và quy trình nhằm tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, giảm thiểu chất thải và ô nhiễm. Theo UNEP (2017), ngành xây dựng chiếm khoảng 39% tổng lượng khí thải carbon toàn cầu. Do đó, việc áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh là cần thiết để giảm thiểu tác động tiêu cực này.

1.2. Hiệu Quả Doanh Nghiệp Trong Ngành Xây Dựng

Hiệu quả doanh nghiệp trong ngành xây dựng không chỉ được đo bằng lợi nhuận mà còn bao gồm các yếu tố như sự bền vững và trách nhiệm xã hội. Các nghiên cứu cho thấy rằng doanh nghiệp áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh có khả năng cải thiện hiệu quả kinh tế và môi trường, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

II. Vấn Đề và Thách Thức Trong Quản Lý Chuỗi Cung Ứng Xanh

Mặc dù quản lý chuỗi cung ứng xanh mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc triển khai. Các doanh nghiệp trong ngành xây dựng thường gặp khó khăn trong việc thay đổi thói quen và quy trình làm việc. Thêm vào đó, sự thiếu hụt thông tin và công nghệ cũng là một rào cản lớn.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Thay Đổi Thói Quen Làm Việc

Nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì các phương pháp truyền thống, dẫn đến việc khó khăn trong việc áp dụng các thực hành xanh. Theo Chen và cộng sự (2015), việc thay đổi thói quen làm việc là một trong những thách thức lớn nhất trong việc triển khai quản lý chuỗi cung ứng xanh.

2.2. Thiếu Thốn Về Công Nghệ và Thông Tin

Sự thiếu hụt công nghệ hiện đại và thông tin về quản lý chuỗi cung ứng xanh cũng là một vấn đề lớn. Nhiều doanh nghiệp không có đủ nguồn lực để đầu tư vào công nghệ xanh, dẫn đến việc không thể tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm.

III. Phương Pháp Quản Lý Chuỗi Cung Ứng Xanh Hiệu Quả

Để vượt qua các thách thức, doanh nghiệp cần áp dụng các phương pháp quản lý chuỗi cung ứng xanh hiệu quả. Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng công nghệ xanh, cải tiến quy trình sản xuất và tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan.

3.1. Ứng Dụng Công Nghệ Xanh Trong Quản Lý Chuỗi Cung Ứng

Công nghệ xanh giúp doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất và giảm thiểu chất thải. Việc áp dụng công nghệ mới không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao hiệu quả môi trường. Theo Malia và cộng sự (2013), công nghệ xanh có thể giảm 30% mức tiêu thụ năng lượng trong quá trình xây dựng.

3.2. Cải Tiến Quy Trình Sản Xuất

Cải tiến quy trình sản xuất là một yếu tố quan trọng trong việc áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh. Doanh nghiệp cần xem xét lại các quy trình hiện tại để tìm ra những điểm có thể cải thiện, từ đó giảm thiểu ô nhiễm và tăng cường hiệu quả kinh tế.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh có tác động tích cực đến hiệu quả doanh nghiệp trong ngành xây dựng. Các doanh nghiệp áp dụng các thực hành xanh không chỉ giảm thiểu ô nhiễm mà còn nâng cao lợi nhuận và thị phần.

4.1. Kết Quả Từ Các Doanh Nghiệp Áp Dụng Thực Hành Xanh

Nghiên cứu cho thấy rằng các doanh nghiệp áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh có thể tiết kiệm hơn 20% mức tiêu thụ năng lượng. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp trong mắt khách hàng.

4.2. Tác Động Tích Cực Đến Môi Trường

Việc áp dụng các thực hành xanh giúp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường. Theo Blengini (2009), các hoạt động như tái chế và phân loại chất thải có thể giảm mức sử dụng năng lượng tới 30%.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Quản Lý Chuỗi Cung Ứng Xanh

Quản lý chuỗi cung ứng xanh là một xu hướng tất yếu trong ngành xây dựng. Các doanh nghiệp cần nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc áp dụng các thực hành xanh để không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn bảo vệ môi trường. Tương lai của ngành xây dựng sẽ phụ thuộc vào khả năng áp dụng các phương pháp quản lý chuỗi cung ứng xanh.

5.1. Xu Hướng Tương Lai Trong Ngành Xây Dựng

Ngành xây dựng sẽ ngày càng chú trọng đến việc áp dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh. Các doanh nghiệp cần đầu tư vào công nghệ và quy trình mới để đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

5.2. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Tiếp Theo

Cần có thêm nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanh và hiệu quả doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp có cái nhìn rõ hơn về lợi ích của việc áp dụng các thực hành xanh trong hoạt động kinh doanh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ mối quan hệ giữa quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành xây dựng tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng xanh và kết quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Quản lý chuỗi cung ứng Khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng đang nhận được sự quan tâm ngày càng gia tăng từ các nhà nghiên cứu, chuyên gia tư vấn và các nhà quản lý doanh nghiệp. Đây là một khái niệm tổng hợp được đề cập và tổng quan nghiên cứu trên các khía cạnh về quản lý, chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng.

Quản lý Có khá nhiều quan điểm xung quanh cách hiểu về quản lý theo các cách tiếp cận khác nhau, trong đó có thể kể đến những quan điểm điển hình sau đây. Trước hết, xét về mặt chức năng, định nghĩa quản lý được sử dụng nhiều nhất được đưa ra bởi Henry Fayol. Theo Henry Fayol (T.2): “quản lý là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, phối hợp và kiểm soát”. Hay "quản lý có nghĩa là dẫn dắt doanh nghiệp đến mục tiêu đạt được những tiến bộ tối đa từ các nguồn lực sẵn có".3) cho rằng “quản lý có nghĩa là ra quyết định”.4) gợi ý “quản lý được hiểu là nhiệm vụ lập kế hoạch, điều phối, thúc đẩy và kiểm soát những nỗ lực của người khác hướng tới một mục tiêu cụ thể”.

Knootz và O hèDonnel (T.4) xác định quản lý là việc tạo và duy trì môi trường nội bộ trong một doanh nghiệp - nơi các cá nhân làm việc theo nhóm một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu của nhóm. Trong một hướng tiếp cận khác, cụ thể là xét về mặt quá trình, Joseph L.3) phát biểu “quản lý là quá trình mà một nhóm hợp tác chỉ đạo các hành động hướng tới các mục tiêu chung”.3) chỉ ra về bản chất, “quản lý đơn giản là quá trình ra quyết định và kiểm soát hành động của con người với mục đích rõ ràng là đạt được các mục tiêu đã định sẵn”. Schulze và Ordway Tead (T.4) cùng chung quan điểm quản lý là quy trình dẫn dắt, hướng dẫn và chỉ đạo một tổ chức trong việc hoàn thành công việc đã được định trước hay thực hiện các mục tiêu đã thiết lập. 12 Như vậy, có thể thấy các định nghĩa ở trên có sự tương đồng và cũng có sự khác biệt song tác giả tổng kết lại khái niệm về quản lý nhấn mạnh chức năng hướng dẫn, chỉ đạo và trọng tâm nhắm vào các mục tiêu đã được định sẵn.

Hay nói cách khác, nó liên quan đến quy trình hướng doanh nghiệp vào vấn đề làm thế nào để đạt được các mục tiêu đó. Chuỗi cung ứng Tổng quan tài liệu cho thấy có khá nhiều định nghĩa về chuỗi cung ứng, chẳng hạn như Christopher (1992) cho rằng chuỗi cung ứng là mạng lưới các tổ chức có liên quan, thông qua mối liên kết ngược dòng và xuôi dòng, trong các quy trình và hoạt động khác nhau tạo ra giá trị dưới dạng hàng hóa/dịch vụ trong tay người tiêu dùng cuối cùng. Hay Min và Zhou (2002) lại quan niệm nó là hệ thống tích hợp đồng bộ hóa một loạt các quy trình kinh doanh phụ thuộc lẫn nhau để: (1) cung cấp các nguyên liệu thô và bộ phận; (2) biến đổi các nguyên liệu thô và bộ phận thành thành phẩm; (3) hoạt động gia tăng giá trị sản phẩm; (4) phân phối và quảng bá sản phẩm cho nhà bán lẻ hoặc người tiêu dùng; (5) trao đổi thông tin giữa các thực thể kinh doanh khác nhau (như nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp dịch vụ logistics và nhà bán lẻ). Có thể thấy tồn tại hai cách nhìn khác nhau của hai nhóm tác giả khi xem xét trọng tâm của chuỗi cung ứng, cụ thể là nhóm thứ nhất tập trung vào sự tích hợp trong quy trình được chỉ ra bởi Bowersox (1969), Ellram (1991), Christopher (1992), Lee và Billington (1992), Ganeshan và Harrison (1995), Kopczak (1997), Beamon B (1998), Lambert, Stock và Ellram (1998), Chow, D., Witt, WD, Keebler, J.

Trong khi đó, nhóm thứ hai hướng tới lợi ích của người tiêu dùng như Chikán (1997), Lambert, Cooper và Pagh (1998), Ayers, J. Tóm lại, điểm quan trọng trong các khái niệm về chuỗi cung ứng mà tác giả rút ra và áp dụng vào luận án này là có nhiều doanh nghiệp được liên kết với nhau và được chuyên môn hóa theo chức năng tương ứng với từng giai đoạn, thông qua đó làm gia tăng giá trị sản phẩm, đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia vào chuỗi cung ứng. Quản lý chuỗi cung ứng Nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu nhận ra rằng quản lý chuỗi cung ứng là chìa khóa để xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững cho các hàng hóa và dịch vụ của họ trong một 13 thị trường ngày càng đông đúc. Sự hiểu biết và thực hành về quản lý chuỗi cung ứng trở thành một điều kiện tiên quyết để đạt được mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận đối với tất cả các doanh nghiệp.

Khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng được xem xét từ nhiều quan điểm như mua và bán, logistics và vận chuyển, quản lý hoạt động, marketing, lý thuyết tổ chức và hệ thống thông tin quản lý. Thuật ngữ quản lý chuỗi cung ứng lần đầu tiên được đặt ra bởi một nhóm các nhà tư vấn vào đầu những năm 1980. Nó ngày càng trở nên phổ biến bởi nguồn cung toàn cầu tăng, yêu cầu hợp tác chặt chẽ hơn với các nhà cung cấp về phát triển sản phẩm mới và nhu cầu của khách hàng để cung cấp hàng hóa, dịch vụ với chi phí rẻ hơn và tốc độ nhanh hơn (Mentzer và cộng sự, 2001). Tuy nhiên, định nghĩa về quản lý chuỗi cung ứng đang còn có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau.

Croom và cộng sự (2000) đã chỉ ra rằng lý do quan trọng nhất cho việc thiếu một định nghĩa cụ thể xuất phát từ nguồn gốc và sự tiến hóa đa ngành của khái niệm. Thống kê các công trình nghiên cứu cho thấy các tác giả khác nhau xem xét thuật ngữ quản lý chuỗi cung ứng từ một loạt định hướng dẫn đến có ít sự nhất quán về cách hiểu và sử dụng khái niệm này. Bằng chứng là rất nhiều định nghĩa được nhắc đến. Ở giai đoạn sơ khai, Oliver và Webber (1982) nhấn mạnh quản lý chuỗi cung ứng là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát các hoạt động của chuỗi cung ứng với mục đích đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách hiệu quả nhất có thể.

Quản lý chuỗi cung ứng bao gồm tất cả sự di chuyển và lưu trữ nguyên liệu thô, hàng tồn kho trong quá trình làm việc và hàng hóa thành phẩm từ điểm xuất phát đến điểm tiêu thụ. Sau đó, Christopher (1998) cũng cung cấp thêm lập luận quản lý chuỗi cung ứng chính là một phần mở rộng logic của logistics. Quản lý chuỗi cung ứng có thể được phân thành ba loại khác nhau: (1) triết lý quản lý, (2) thực hiện triết lý quản lý và (3) một bộ quy trình quản lý. Các hoạt động cần thiết để thực hiện triết lý quản lý chuỗi cung ứng này như một triết lý có cách tiếp cận hệ thống, xem chuỗi cung ứng là một thực thể thống nhất, duy nhất chứ không phải là các phần rời rạc.

Trong chuỗi cung ứng, các tổ chức có một niềm tin về mục đích cốt lõi của họ là hợp tác cùng nhau để cải thiện hiệu suất tổng thể chuỗi cung ứng và tạo ra giá trị khách hàng. Ở một vài nghiên cứu, quản lý chuỗi cung ứng chỉ đơn giản xem xét luồng luân chuyển giữa các giai đoạn trong chuỗi cung ứng được chỉ ra bởi Oliver và Webber (1982), Ayers, JB. Trong khi đó ở các nghiên cứu còn lại, nhiều tác giả đã phát triển và mở rộng quan điểm tập trung vào mối quan hệ hợp tác giữa các nhà cung cấp và hợp tác với khách hàng (Berry và cộng sự, 1994; Tan 14 và cộng sự, 1998; Computerworld, 2001; Bowersox, Closs và Cooper, 2002; Simchi- Levi, D., 2003; Sweeney, 2007; Bozarth và Handfield, 2008). Bên cạnh đó, các nghiên cứu còn ghi nhận sự khác biệt nữa về mục tiêu của quản lý chuỗi cung ứng: có những chuyên gia chỉ hướng tới việc đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng như Oliver và Webber (1982), Ayers, JB.

Mặc dù mỗi định nghĩa nhấn cụ thể vào một điểm cốt lõi khác nhau nhưng có một điểm chung là đều coi trọng môi trường bên ngoài của doanh nghiệp. Qua tổng quan ở trên có thể thấy quản lý chuỗi cung ứng là việc lên kế hoạch và kiểm soát quy trình liên kết các đối tác trong chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, đáng tin cậy, đạt hiệu quả tối ưu về chi phí và tính linh hoạt, cụ thể: cung cấp đúng mặt hàng, giao hàng đến đúng địa điểm, đúng số lượng, đúng thời điểm yêu cầu và với mức giá phù hợp. Song mục tiêu của quản lý chuỗi cung ứng không chỉ dừng lại ở việc gia tăng đóng góp giá trị cho khách hàng mà còn thể hiện thông qua cải thiện năng lực cạnh tranh, tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận của các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Điều này đồng nghĩa với các doanh nghiệp sẽ hợp tác chặt chẽ nhằm đem đến kết quả có lợi cho tất cả các bên bao gồm cả khách hàng.

Do đó, để đạt được mục tiêu cuối cùng này, cần phải tích hợp và đồng bộ hóa các hoạt động của những thực thể tham gia chuỗi cung ứng ở tất cả các cấp, từ chiến lược đến vận hành. Quản lý chuỗi cung ứng xanh 1. Chuỗi cung ứng xanh Khái niệm chuỗi cung ứng xanh là một khái niệm đa ngành, chủ yếu xuất phát từ việc thực hiện quản lý môi trường trong bối cảnh chuỗi cung ứng (Walton, Handfield và Melnyk, 1998; Sarkis, 2006). Tương tự, Beamon (1999) cũng nhận định rằng chuỗi cung ứng xanh được tạo ra bằng cách mở rộng chuỗi cung ứng truyền thống bao gồm các hoạt động giảm thiểu tác động tới môi trường của sản phẩm trong toàn bộ chu kỳ, như thiết kế sinh thái, tiết kiệm tài nguyên, giảm thiểu nguyên liệu có hại, tái chế và tái sử dụng sản phẩm.

Youni và cộng sự (2016) bổ sung thêm cách hiểu “chuỗi cung ứng xanh là chuỗi cung ứng tạo ra sản phẩm có thể phân hủy được, sử dụng tối thiểu các nguồn lực trong khi phát sinh lượng chất thải thấp nhất”. Hay Penfield (trích dẫn trong Ban quản lý dự án “Tăng cường năng lực lồng ghép phát triển bền vững và biến đổi 15 khí hậu trong công tác lập kế hoạch tại Việt Nam”,2015, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ