Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu trọng tâm trong chiến lược phát triển quốc gia, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố vĩ mô, vi mô, thể chế chính trị và văn hóa xã hội. Trong các động lực kinh tế, sự phát triển của hệ thống tài chính giữ vai trò quan trọng trong việc huy động, phân bổ vốn và chia sẻ rủi ro. Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế đã được khởi xướng từ nghiên cứu kinh điển của Schumpeter (1911) và tiếp tục được khẳng định qua các công trình của Goldsmith (1969), McKinnon và Shaw (1973). Tuy nhiên, các bằng chứng thực nghiệm vẫn tồn tại nhiều tranh luận trái chiều: một số tác giả như Kaminsky và Reinhart (1999), Cecchetti và cộng sự (2012), Arcand và cộng sự (2015) cho rằng sự phát triển tài chính vượt ngưỡng có thể gây méo mó phân bổ nguồn lực và gia tăng rủi ro hệ thống. Đồng thời, sự hiện diện và vai trò của các nhà đầu tư định chế (công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí) đối với tăng trưởng kinh tế vẫn chưa được khảo sát chuyên sâu trong mối liên hệ tổng thể với phát triển tài chính.

Khóa luận tập trung giải quyết hai câu hỏi và nhiệm vụ nghiên cứu chính:

  1. Xác định liệu phát triển tài chính có tác động đến tăng trưởng kinh tế hay không, và mức độ tác động giữa nhóm các nước đang phát triển với các nước phát triển có sự khác biệt hay không.
  2. Xác định liệu các nhà đầu tư định chế có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế hay không, và mức độ ảnh hưởng giữa hai nhóm quốc gia đang phát triển và phát triển có sự tương đồng hay dị biệt.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ tác động giữa phát triển tài chính, quy mô tài sản của các nhà đầu tư định chế và tăng trưởng kinh tế. Phạm vi nghiên cứu bao gồm mẫu dữ liệu thu thập tại 64 quốc gia trên thế giới (gồm 33 quốc gia đang phát triển và 31 quốc gia phát triển theo phân loại của IMF năm 2017) trong giai đoạn 10 năm từ 2007 đến 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các lý thuyết phát triển tài chính và mô hình tăng trưởng kinh tế kinh điển:

  • Khung lý thuyết về phát triển tài chính: Định nghĩa theo Hartmann (2007) về cải thiện hiệu quả và giảm bất cân xứng thông tin; quan điểm của Levine (2008) về chức năng phân bổ vốn và tối ưu hóa đầu tư; thước đo độ sâu tài chính qua cung tiền $M2/M1$ của Liu và Woo (1994) và các tiêu chí phân loại của World Bank (2016) bao gồm tiếp cận tài chính, độ sâu tài chính, tính hiệu quả và tính ổn định.
  • Khung lý thuyết về tăng trưởng kinh tế: Mô hình phát triển tư bản dựa trên tích lũy của Adam Smith; mô hình Harrod - Domar; mô hình hàm sản xuất mở rộng Cobb - Douglas; mô hình tăng trưởng ngoại sinh tân cổ điển của Solow (1966); mô hình tăng trưởng nội sinh của Lucas (1988) gắn với tích lũy vốn con người và đổi mới công nghệ; các công trình thực nghiệm của Barro (1996) và Acemoglu cùng cộng sự (2003).
  • Lý thuyết về nhà đầu tư định chế: Cơ chế phân bổ vốn gián tiếp thông qua ủy thác và chia sẻ rủi ro thị trường của 3 định chế: Công ty bảo hiểm (Insurance Companies - IC), Quỹ tương hỗ (Mutual Funds - MF) và Quỹ hưu trí (Pension Funds - PF).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng kỹ thuật kinh tế lượng cho dữ liệu bảng không cân (unbalanced panel data). Để kiểm tra tính phi tuyến và ngưỡng tác động, nghiên cứu ứng dụng phương pháp hồi quy ngưỡng dữ liệu bảng (Panel Threshold Regression) dựa trên nền tảng mô hình của Hansen (1999), Law và Singh (2014), Rioja và Valev (2004), José Ruiz-Vergara (2017).

Mô hình hồi quy thực nghiệm tổng quát: $$\text{GROWTH}{it} = \alpha_i + \beta_1 \text{FIN}{it} I(\text{FIN}{it} \le \gamma) + \delta_1 I(\text{FIN}{it} \le \gamma) + \beta_2 \text{FIN}{it} I(\text{FIN}{it} > \gamma) + X_{it}\theta + \epsilon_{it}$$

Trong đó:

  • $\text{GROWTH}_{it}$ là tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của quốc gia $i$ tại năm $t$.
  • $\text{FIN}_{it}$ là biến phát triển tài chính, được đại diện bởi tín dụng ngân hàng cho khu vực tư nhân (CB) hoặc tín dụng trong nước cho khu vực tư nhân (DCPS).
  • $\gamma$ là giá trị ngưỡng cần ước lượng. Hàm chỉ thị $I(\cdot)$ nhận giá trị bằng 1 khi mệnh đề đúng và bằng 0 khi sai.
  • Do dữ liệu về nhà đầu tư định chế tại các nước đang phát triển không cân bằng, tác giả áp dụng phương pháp ước lượng OLS kết hợp quy trình nội suy (interpolation), loại bỏ giá trị cực đại/cực tiểu và thử lần lượt các giá trị ngưỡng $\gamma$ để tìm giá trị tối ưu có ý nghĩa thống kê.
  • $X_{it}$ là vector biến độc lập và biến kiểm soát.
Tên biến Ký hiệu Loại biến Thước đo và nguồn gốc
Tăng trưởng kinh tế GROWTH Biến phụ thuộc Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm (%)
Tín dụng ngân hàng tư nhân CB Biến nghiên cứu Tín dụng ngân hàng dành cho khu vực tư nhân (% GDP)
Tín dụng trong nước tư nhân DCPS Biến nghiên cứu Tín dụng trong nước dành cho khu vực tư nhân (% GDP)
Tài sản công ty bảo hiểm IC Biến nghiên cứu Tổng tài sản của các công ty bảo hiểm (% GDP)
Tài sản quỹ tương hỗ MF Biến nghiên cứu Tổng tài sản của các quỹ tương hỗ (% GDP)
Tài sản quỹ hưu trí PF Biến nghiên cứu Tổng tài sản của các quỹ hưu trí (% GDP)
Thu nhập ban đầu INIC Biến kiểm soát Thu nhập gốc (% GDP năm 2010) (Ruiz-Vergara, 2017)
Chi tiêu Chính phủ GVE Biến kiểm soát Tổng chi tiêu công của Chính phủ (% GDP)
Lạm phát INFL Biến kiểm soát Tỷ lệ lạm phát hàng năm tính theo chỉ số CPI (%)
Tổng vốn đầu tư GCF Biến kiểm soát Tổng vốn tích lũy tài sản cố định (% GDP)
Độ mở thương mại TRADE Biến kiểm soát Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ (% GDP)
Tăng trưởng dân số PPT Biến kiểm soát Tốc độ tăng dân số hàng năm (%)

Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế giới (World Bank - WDI) và Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Economic Data - FRED).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan đề tài

Chương mở đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh các nghiên cứu về vai trò của thị trường tài chính và các định chế phi ngân hàng còn nhiều điểm chưa đồng thuận. Tác giả xác định mục tiêu làm rõ mối liên hệ giữa phát triển tài chính, nhà đầu tư định chế và tăng trưởng kinh tế, đồng thời so sánh giữa 33 quốc gia đang phát triển và 31 quốc gia phát triển. Chương này cũng phác thảo phương pháp nghiên cứu định lượng dữ liệu bảng, đối tượng khảo sát và cấu trúc toàn bộ khóa luận gồm 5 chương.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan về các nghiên cứu trước đây

Chương 2 hệ thống hóa các trường phái lý thuyết kinh tế về phát triển tài chính và tăng trưởng. Tác giả tổng hợp các quan điểm từ Schumpeter (1911), Kuznets (1955), Lewis (1956), Patrick (1966), Goldsmith (1969), McKinnon và Shaw (1973), King và Levine (1993), Pagano (1993) cho đến các mô hình phi tuyến hiện đại của Deidda và Fattouh (2002), Rioja và Valev (2004), Cecchetti và Kharroubi (2012), Law và Singh (2014), Mishra và Narayan (2015). Đồng thời, chương làm rõ cơ chế vận hành kinh tế của ba nhóm định chế tài chính trung gian: công ty bảo hiểm thực hiện bảo vệ rủi ro tổn thất và tái đầu tư phí bảo hiểm ngắn hạn; quỹ tương hỗ huy động vốn nhỏ lẻ phát hành chứng chỉ quỹ để đa dạng hóa danh mục; quỹ hưu trí quản lý nguồn tích lũy hưu trí tự nguyện dài hạn nhằm tối ưu hóa tỷ suất sinh lợi và phân bổ vốn vĩ mô.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết mẫu nghiên cứu 64 quốc gia, chia thành hai nhóm:

  • Nhóm 33 quốc gia đang phát triển: Argentina, Albania, Brazil, Bosnia and Herzegovina, Bulgaria, China, Croatia, Chile, Costa Rica, Egypt, Hungary, Indonesia, India, Kazakhstan, Kenya, Morocco, Mexico, Malaysia, Nigeria, Panama, Peru, Pakistan, Poland, Philippines, Russian, Romania, South Africa, Thailand, Tunisia, Turkey, Uruguay, VietNam,...
  • Nhóm 31 quốc gia phát triển: Austria, Australia, Belgium, Czech Republic, Canada, Denmark, Estonia, France, Finland, Greece, Germany, Hong Kong SAR, Ireland, Israel, Italy, Iceland, Korea, Japan, Lithuania, Latvia, Norway, Netherlands, Portugal, Switzerland, Singapore, Sweden, Slovak Republic, Spain, Slovenia, United Kingdom, United States.

Chương này định nghĩa tường minh các biến phụ thuộc, biến nghiên cứu và biến kiểm soát; thiết lập mô hình hồi quy ngưỡng và quy trình kiểm định khuyết tật mô hình (đa cộng tuyến VIF, mô hình tác động cố định FEM, tự tương quan và phương sai thay đổi).

Chương 4: Phân tích dữ liệu và thảo luận kết quả

Chương 4 cung cấp kết quả thống kê mô tả, ma trận tương quan, kiểm định VIF và bảng ước lượng hồi quy ngưỡng theo hai biến đo lường $CB$ và $DCPS$:

Chỉ tiêu thống kê mô tả Nhóm đang phát triển (Mean) Nhóm phát triển (Mean) Giá trị Min / Max đáng chú ý
Tăng trưởng GDP bình quân (GROWTH) 2,22% 1,06% Max: Ireland (24,38%), Romania (10,08%)
Tín dụng ngân hàng tư nhân (CB) 49,xx% GDP 104,44% GDP Max: Iceland (250,45%), Malaysia (125,02%)
Tổng tài sản công ty bảo hiểm (IC) 8,xx% GDP 40,xx% GDP Max: Denmark (144,43%), South Africa (69,05%)
Tổng tài sản quỹ tương hỗ (MF) 9,xx% GDP 71,09% GDP Max: Ireland (776,43%), South Africa (63,48%)
Tổng tài sản quỹ hưu trí (PF) 15,xx% GDP 37,06% GDP Max: Netherland (183,71%), South Africa (99,66%)
Chi tiêu Chính phủ (GVE) 14,98% GDP 19,53% GDP Max: Denmark (27,94%), Bosnia & Herz. (23,46%)
Độ mở thương mại (TRADE) 77,xx% GDP 109,xx% GDP Max: Hong Kong (442,62%), Malaysia (192,47%)

Kết quả kiểm định ma trận tương quan chỉ ra biến chi tiêu Chính phủ (GVE) có tương quan nghịch có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng. Kiểm định đa cộng tuyến cho thấy giá trị VIF trung bình là 7, trong đó 3 biến $CB$ (VIF = 11,31), $DCPS$ và $PF$ có hệ số vượt 10, nhưng mô hình không bị sai lệch nghiêm trọng, khoảng tin cậy và kiểm định $t$ vẫn giữ nguyên ý nghĩa thống kê.

Kết quả hồi quy ngưỡng khẳng định:

  • Khi đo bằng tín dụng ngân hàng ($CB$), giá trị ngưỡng $\gamma$ của nhóm đang phát triển ở cả 3 mô hình định chế ($IC, MF, PF$) đều ở mức 51,59% GDP; trong khi ở nhóm phát triển, ngưỡng $\gamma$ đạt mức trên 101% GDP (mô hình $IC$ là 101,xx%, số quan sát $OBS$ từ 237 đến 291).
  • Khi đo bằng tín dụng trong nước ($DCPS$), giá trị ngưỡng $\gamma$ của nhóm đang phát triển là 49,89% GDP; trong khi nhóm phát triển có ngưỡng lên tới 117,xx% GDP.
  • Ở phía trên ngưỡng ($\text{FIN} > \gamma$), hệ số phát triển tài chính tác động dương và đồng biến mạnh mẽ với tăng trưởng kinh tế.

Chương 5: Kết luận

Chương tổng kết các phát hiện thực nghiệm, rút ra hàm ý chính sách về việc kiểm soát tăng trưởng tín dụng vượt ngưỡng an toàn và thúc đẩy các kênh định chế phi ngân hàng. Chương 5 cũng nêu rõ các giới hạn dữ liệu và định hướng các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại các kết quả thực nghiệm với số liệu cụ thể:

  1. Mối quan hệ phi tuyến và hiệu ứng ngưỡng: Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế không mang tính tuyến tính thuần nhất mà phụ thuộc vào ngưỡng phát triển của quy mô tín dụng. Tại mức giá trị dưới ngưỡng, tín dụng tư nhân tác động ngược chiều hoặc không có ý nghĩa; khi vượt qua ngưỡng, tín dụng kích thích tăng trưởng rõ nét.
  2. Sự phân hóa ngưỡng giữa hai nhóm quốc gia: Ngưỡng phát triển tài chính của nhóm các nước đang phát triển thấp hơn đáng kể so với nhóm phát triển (ngưỡng $CB$ là 51,59% GDP so với >101% GDP; ngưỡng $DCPS$ là 49,89% GDP so với >117% GDP).
  3. Vai trò tích cực của nhà đầu tư định chế: Quy mô tài sản của quỹ tương hỗ ($MF$) và quỹ hưu trí ($PF$) có mối tương quan dương có ý nghĩa thống kê với tăng trưởng kinh tế ở cả hai nhóm nước. Đối với các công ty bảo hiểm ($IC$), tác động cùng chiều thể hiện rõ ở các nước phát triển, trong khi ở các nước đang phát triển hệ số mang dấu âm nhưng không có ý nghĩa thống kê trong mô hình $DCPS$.

Tác giả giải thích cơ chế đóng góp của hệ thống tài chính phát triển vào tăng trưởng kinh tế dựa trên ba trụ cột:

  • Gia tăng tỷ lệ tiết kiệm xã hội, tạo nguồn tích lũy mở rộng quy mô đầu tư.
  • Nâng cao hiệu quả phân bổ vốn đầu tư thông qua năng lực xử lý thông tin và quy mô vốn vượt trội của các nhà đầu tư định chế.
  • Giảm chi phí giao dịch, nâng cao tỷ suất sinh lợi thực tế và phân tán rủi ro thông qua các hợp đồng bảo hiểm và thị trường công cụ phái sinh, từ đó khuyến khích đầu tư vào các dự án đổi mới công nghệ.

Về mặt đóng góp học thuật, khóa luận kết hợp đồng thời cả ba yếu tố: phát triển tài chính, nhà đầu tư định chế và tăng trưởng kinh tế trong một khung phân tích dữ liệu bảng có kiểm định ngưỡng, bổ sung bằng chứng thực nghiệm về sự khác biệt thể chế giữa thị trường phát triển và thị trường mới nổi giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2007-2016.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra hai hạn chế chính trong quá trình thực hiện:

  • Thời gian nghiên cứu tương đối ngắn: Mẫu dữ liệu quan sát chỉ kéo dài 10 năm (2007 - 2016), chưa bao quát được các chu kỳ kinh tế dài hạn hơn.
  • Dữ liệu chưa toàn diện và thiếu vắng biến đại diện: Dữ liệu về các định chế tài chính tại các thị trường đang phát triển còn khuyết thiếu dẫn đến dữ liệu bảng không cân; nghiên cứu mới chỉ tiếp cận được 3 loại hình nhà đầu tư định chế cơ bản ($IC, MF, PF$) mà chưa bao quát được toàn bộ cấu trúc định chế tài chính phức hợp.

Hướng nghiên cứu mở rộng được tác giả đề xuất:

  • Mở rộng phạm vi mẫu nghiên cứu cả về độ dài chuỗi thời gian và số lượng quốc gia khảo sát.
  • Bổ sung thêm các loại hình nhà đầu tư định chế khác ngoài bảo hiểm, tương hỗ, hưu trí; đưa thêm các biến tương tác và biến kiểm định mới nhằm phân tích sâu hơn cơ chế truyền dẫn giữa tài chính và tăng trưởng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học, Kinh tế phát triển khi xây dựng đề cương nghiên cứu về trung gian tài chính và tăng trưởng kinh tế.
  • Các nhà nghiên cứu thực nghiệm cần tham khảo phương pháp xử lý dữ liệu bảng không cân kết hợp tìm điểm ngưỡng (threshold regression) bằng kỹ thuật nội suy và kiểm định chẩn đoán mô hình (VIF, FEM, ma trận tương quan).
  • Phần đáng tham khảo nhất là bảng tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây (Chương 2), khung phân loại 12 biến vĩ mô chuẩn hóa theo World Bank/FRED (Chương 3) và các kết quả hồi quy ngưỡng phân nhóm quốc gia (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Mẫu dữ liệu của nghiên cứu được phân chia như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu gồm 64 quốc gia trong giai đoạn 2007-2016, được phân thành 2 nhóm theo báo cáo IMF 2017: nhóm 33 quốc gia đang phát triển (như Việt Nam, Trung Quốc, Malaysia, Nam Phi, Brazil,...) và nhóm 31 quốc gia phát triển (như Hoa Kỳ, Anh, Đức, Nhật Bản, Singapore, Đan Mạch,...).

2. Phương pháp nào được sử dụng để xác định giá trị ngưỡng khi dữ liệu bảng không cân?
Do dữ liệu các nhà đầu tư định chế ở các nước đang phát triển bị khuyết thiếu (bảng không cân), tác giả áp dụng phương pháp ước lượng OLS theo mô hình Hansen (1999), loại bỏ các giá trị cực đại và cực tiểu, sau đó sử dụng phương pháp nội suy để thử lần lượt các giá trị ngưỡng $\gamma$ cho đến khi biến ngưỡng $\text{FIN}_{it}$ phân tách thành hai vùng tác động thỏa mãn điều kiện có ý nghĩa thống kê.

3. Giá trị ngưỡng phát triển tài chính cụ thể ở hai nhóm quốc gia là bao nhiêu?
Khi đo bằng biến tín dụng ngân hàng cho khu vực tư nhân ($CB$), ngưỡng của nhóm đang phát triển là 51,59% GDP và nhóm phát triển là trên 101% GDP. Khi đo bằng biến tín dụng trong nước cho khu vực tư nhân ($DCPS$), ngưỡng của nhóm đang phát triển là 49,89% GDP và nhóm phát triển là trên 117% GDP.

4. Mô hình có gặp hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng không?
Kiểm định VIF cho thấy giá trị trung bình là 7. Có ba biến có hệ số VIF vượt 10 gồm tín dụng ngân hàng tư nhân ($CB = 11,31$), tín dụng trong nước ($DCPS$) và tài sản quỹ hưu trí ($PF$). Tuy nhiên, do các biến kiểm soát khác có VIF thấp, hiện tượng đa cộng tuyến không làm gia tăng sai số chuẩn nghiêm trọng, khoảng tin cậy và kiểm định $t$ của các hệ số hồi quy vẫn đảm bảo ý nghĩa thống kê.

5. Kết quả tác động của các nhà đầu tư định chế lên tăng trưởng kinh tế ra sao?
Tài sản của các quỹ tương hỗ ($MF$) và quỹ hưu trí ($PF$) đều thể hiện mối quan hệ đồng biến tích cực với tăng trưởng kinh tế ở cả hai nhóm nước. Tài sản công ty bảo hiểm ($IC$) tác động tích cực ở các nước phát triển, nhưng thể hiện hệ số âm không có ý nghĩa thống kê trong mô hình đo lường $DCPS$ tại các nước đang phát triển.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Việt Trinh đã chứng minh sự tồn tại của mối quan hệ phi tuyến tính và hiệu ứng ngưỡng giữa phát triển tài chính đối với tăng trưởng kinh tế trên mẫu 64 quốc gia giai đoạn 2007-2016. Nghiên cứu chỉ ra ngưỡng phát triển tín dụng tại các nước đang phát triển (khoảng 49,89% - 51,59% GDP) thấp hơn rõ rệt so với các nước phát triển (trên 101% - 117% GDP) để phát huy tác động cùng chiều lên tăng trưởng GDP bình quân đầu người. Đồng thời, công trình khẳng định vai trò thúc đẩy phân bổ vốn hiệu quả của các nhà đầu tư định chế, đặc biệt là quỹ tương hỗ và quỹ hưu trí, cung cấp cơ sở thực nghiệm cho việc hoạch định chính sách phát triển thị trường tài chính cân bằng và bền vững.