Chương 1: Giới thiệu về đề tài nguyên cứu. Chương 1 đưa ra một cái nhìn tổng quát về bài nghiên cứu, giúp người đọc hiểu rõ được các vấn đề của bài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan về các nghiên cứu trước đây. Chương 2 sẽ đưa ra các cơ sở lý thuyết và tóm tắt các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 sẽ trình bày về mẫu dữ liệu, nguồn dữ liệu, giới thiệu về các biến đồng thời đưa ra mô hình cũng như phương pháp của bài nghiên cứu. Chương 4: Kết quả mô hình 4 Chương 4 sẽ trình bày chi tiết về thống kê mô tả, các loại kiểm định cũng như kết quả của bài nghiên cứu. Chương 5: Kết luận Chương 5 sẽ tóm tắt lại mục tiêu và kết quả đạt được của bài nghiên cứu từ đó đưa ra các hàm ý chính sách. Bên cạnh đó, phần này cũng sẽ trình bày về những hạn chế và hướng phát triển cho bài nghiên cứu.
5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Trong chương 2, tác giả tóm tắt một số nghiên cứu trước đây về ba nội dung chủ yếu: phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế và các nhà đầu tư định chế. Nhằm hiểu rõ về nguồn gốc, ý nghĩa cũng như chức năng của các thuật ngữ trên. Từ đó có cách nhìn đa chiều để đánh giá mối liên kết giữa ba nhân tố trên.1 Lý thuyết về phát triển tài chính Phát triển tài chính có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Vì vậy, tác giả xin đưa ra những khái niệm phổ biến nhất của phát triển tài chính được sử dụng trong các bài nghiên cứu về phát triển tài chính hiện nay: Theo Hartmann (2007): Phát triển tài chính là quá trình cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của các định chế tài chính trong hệ thống tài chính nhằm tăng tính hoàn hảo của thị trường, giảm bất cân xứng thông tin làm cho các đối tượng trong nền kinh tế có thể dễ dàng thực hiện các giao dịch tài chính với chi phí giao dịch thấp hơn, tính cạnh tranh giữa các định chế tài chính cao hơn.
Levine (2008) cho rằng: Phát triển tài chính là thực hiện tốt các chức năng của hệ thống tài chính như đầu tư và phân bổ vốn, giảm chi phí cho việc đa dạng hóa danh mục và thu hút tiết kiệm, tăng hiệu quả đầu tư. Phát triển tài chính sẽ giúp kích thích tiết kiệm, tăng hiệu quả phân bổ vốn, khuyến khích chuyên môn hóa trong sản xuất, phát triển tinh thần kinh doanh, áp dụng công nghệ mới và giúp tăng trưởng kinh tế. Theo Chu Minh Hội (2013): Phát triển tài chính là sự phát triển của các hệ thống tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng thương mại được phản ánh qua sự thu hẹp và mở rộng các tiêu thức sau: quy mô tín dụng cho khu vực kinh tế tư nhân; khả năng tiếp cận tín dụng và các dịch vụ tài chính khác của hộ gia đình/doanh nghiệp; sự giảm/tăng can thiệp của nhà nước trong điều kiện dòng vốn tín dụng trên thị trường tín dụng. Theo Worldbank (2016): phát triển khu vực tài chính là khắc phục các “chi phí” phát sinh trong hệ thống tài chính.
Quá trình giảm chi phí thu thập thông tin, thực thi hợp 6 đồng và thực hiện giao dịch này đã dẫn đến sự xuất hiện của các hợp đồng tài chính, thị trường và trung gian. Các loại và sự kết hợp thông tin, thực thi và chi phí giao dịch khác nhau cùng với các hệ thống pháp luật, quy định và thuế khác nhau đã thúc đẩy các hợp đồng tài chính, thị trường và trung gian khác nhau giữa các quốc gia và trong suốt lịch sử.2 Đo lường phát triển tài chính Dựa trên cơ sở định nghĩa về phát triển tài chính có thể xây dựng nhiều chỉ số khác nhau để đo lường phát triển tài chính. Theo World Bank, hiện nay có hơn 100 chỉ số khác nhau được dùng để đo lường mức độ phát triển tài chính. Các chỉ số sẽ được chia thành 4 nhóm khác nhau với các tiêu chí: Tiếp cận tài chính, độ sâu tài chính, tính hiệu quả và tính ổn định.
Thứ nhất, tiếp cận tài chính là tiêu chí để phản ánh sự phát triển của các trung gian tài chính. Các tiêu chí thường dùng để đo lường tiếp cận tài chính gồm có: - Số lượng chi nhánh ngân hàng thương mại/số người trong độ tuổi trưởng thành. - Tỷ lệ doanh nghiệp được cấp hạn mức tín dụng. - Tỷ lệ cá nhân/hộ gia đình sử dụng các dịch vụ tài chính.
Thứ hai, độ sâu tài chính sẽ phản ánh quy mô của hệ thống tài chính so với quy mô của nền kinh tế. Độ sâu tài chính thường được đo lường thông qua một số tiêu chí như: - Dư nợ tín dụng khu vực tư nhân trên GDP. - Dư nợ huy động tiết kiệm trên GDP. - Cung tiền M2 trên GDP.
Thứ ba, tính hiệu quả là khả năng đảm bảo khách hàng sẽ được hưởng lợi nhờ quá trình tư vấn và quản lý dòng tiền của ngân hàng. Cuối cùng, tính ổn định là đảm bảo hệ thống tài chính sẽ được diễn ra đều đặn, xuyên suốt theo thời gian, ít hoặc không gặp phải các sự cố và qua đó tác động tính cực đến nền kinh tế. Theo Levine (2008), phát triển tài chính có thể được đo lường dựa trên quy mô và mức độ của hệ thống tài chính. 7 - Theo quy mô: Sự phát triển của các định chế tài chính, cơ sở hạ tầng tài chính, tốc độ di chuyển vốn, tín dụng nội địa cho khu vực tư nhân và khối lượng của các tài sản tài chính.
- Theo mức độ: Tín dụng dành cho khu vực tư nhân trên tổng tín dụng; tín dụng khu vực tư nhân trên GDP, vốn hóa của thị trường tài chính, quy mô của các định chế tài chính so với nền kinh tế quốc gia và chỉ số tự do hóa khu vực tài chính, ngân hàng. Liu và Woo (1994) sử dụng tỷ số giá trị tài sản dài hạn trên giá trị tài sản ngắn hạn để đo lường mức độ phức tạp của tài chính. Cụ thể, cung tiền M1 được xem là công cụ tài chính ngắn hạn và M2 được xem là công cụ tài chính dài hạn. Tỷ số cung tiền dài hạn trên cung tiền ngắn hạn (M2/M1) đồng biến với mức độ phát triển tài chính của mỗi quốc gia.
Theo World Bank, tỷ số tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng trên GDP hoặc tỷ số tài sản của các định chế tài chính trên GDP cũng có thể được sử dụng làm thước đo phát triển tài chính.3 Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượng của một quốc gia hoặc sản lượng bình quân đầu người của một nền kinh tế. Theo Soubbotina (2004), tăng trưởng kinh tế có thể đến từ 2 nguồn là tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu. Tăng trưởng theo chiều rộng là nhờ sử dụng nhiều hơn các nguồn lực như vốn vật chất, vốn con người, lao động,. Trong khi đó, tăng trưởng theo chiều sâu đạt được nhờ sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả hơn.
Chúng ta có thể đo lường tăng trưởng kinh tế bằng các chỉ tiêu cụ thể như: tổng sản phẩm quốc nội (GDP); tổng sản phẩm quốc dân (GNP); thu nhập bình quân đầu người. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là giá trị thị trường của tất cả các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). GDP thường được tính theo phương pháp sau: GDP = C + I + G + X – M. Trong đó: C là tiêu dùng của hộ gia đình, I là chi đầu tư, G là chi tiêu Chính phủ, X giá trị xuất khẩu và M là giá trị nhập khẩu.
8 Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). GNP thường được tính bằng phương pháp sau: GNP = GDP + IFFI – OFFI Trong đó: GDP là tổng sản phẩm quốc nội; IFFI là thu nhập của công dân trong nước ở nước ngoài; OFFI là thu nhập của công dân nước ngoài ở trong nước. Thu nhập bình quân đầu người được tính bằng cách lấy GDP hoặc GNP chia cho tổng dân số tương ứng. Đã rất nhiều các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về mô hình tăng trưởng kinh tế như: lý thuyết tăng trưởng kinh tế cổ điển, mô hình tăng trưởng kinh tế theo trường phái Keynes, mô hình tăng trưởng tân cổ điển, mô hình tăng trưởng nội sinh.
Vào thế kỷ XVII, Adam Smith đưa ra mô hình phát triển tư bản chủ nghĩa dựa trên tiết kiệm và đầu tư. Ông cho rằng muốn phát triển kinh tế thì phải đầu tư nhiều hơn, dựa vào việc cắt giảm tiêu dùng. Adam Smith với lý thuyết bàn tay vô hình đã ủng hộ cạnh tranh tự do và giảm thiểu sự can thiệp của Chính phủ. Mô hình tăng trưởng cổ điển của Harrod và Domar dựa trên một nền kinh tế đóng, yếu tố đầu vào chỉ có vốn.
Mô hình này nhấn mạnh mối quan hệ giữa tiết kiệm và sản lượng đầu ra (tăng trưởng kinh tế). Theo mô hình này, muốn tăng trưởng kinh tế thì phải gia tăng tiết kiệm để đi đầu tư và nhờ đó gia tăng sản lượng đầu ra. Tuy nhiên, mô hình của Harrod và Domar cũng có một số hạn chế nhất định khi ấn định khối lượng vốn đầu tư cần thiết cho tăng trưởng theo mục tiêu định trước. Do đó, mô hình này sẽ thiếu chính xác trong khoảng thời gian dài, nhất là khi các yếu tố đầu vào thay đổi.
Phát triển mô hình của Harrod và Domar, Cobb – Douglas đã cho ra mô hình tăng trưởng với hai yếu tố đầu vào là lao động và vốn với nền kinh tế mở. Đồng thời, Cobb – Douglas cũng đưa vào mô hình các hệ số co giãn của lao động và vốn. Mô hình Cobb – Douglas giúp ta thấy được các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế, từ đó có thể tìm ra các biện pháp điều chỉnh phù hợp và kịp thời để giúp nền kinh tế tăng trưởng bền vững. Tiếp nối Cobb – Douglas, mô hình tân cổ điển của Solow (1966) ra đời với sự có mặt của yếu tố công nghệ và được gọi là mô hình tăng trưởng ngoại sinh.