đặt vấn đề trong phỏng van sâu đề tìm ra các ý kiến về nhận thức, hiéu biết, thân thiết giữa nhân viên PR với nhà báo và tập trung khai thác các phương thức trong việc thiết lập, xây dựng và phát triển mỗi quan hệ mà chủ yếu theo hướng giúp các doanh nghiệp khi xúc tiễn quan hệ công chúng với báo chí truyền thông. Đề tài xem xét thực trạng các nhân viên PR triển khai các hoạt động như thế nào khi quan hệ với báo giới. Qua đó đưa ra các giải pháp dé các doanh nghiệp hiểu rõ hơn trong việc duy trì và nâng cao mỗi quan hệ này. Tác giả kết luận “Tai Việt Nam, do đặc thù của một nên báo chí được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nên các moi quan hệ báo chi nói riêng và truyền thông nói chung có nhiều điểm khác biệt so với các nước khác trên thế giới.
Đặc biệt, với những đặc điểm riêng biệt về văn hóa thì việc xây dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ giữa người làm PR và nhà báo trong các doanh nghiệp tại Việt Nam càng mang nhiêu nét đặc trưng. Hiện trạng của moi quan hệ giữa người 15 lam PR và nhà bdo tại Việt Nam cho thấy mối quan hệ này đang có sự chuyển biến mạnh mẽ và sâu rộng. Trước tiên đó là việc nhận thức về mối quan hé truyền thông này đã có nhiêu thay đổi, nó được đánh giá đúng hơn và nhận được sự quan tâm lớn từ phía các doanh nghiệp, tiếp đó là việc các người làm PR có những phương thức xây dựng mối quan hệ hiệu quả và sự phát triển của ngành PR nói chung cũng như moi quan hệ truyền thông này tại tại nước ta. Bên cạnh đó, các nhà báo cũng ngày càng chủ động hơn trong mối quan hệ này, họ cởi mở hơn khi người làm PR tiếp cận hoặc chính họ là người chủ động liên hệ với người làm PR để phát triển mối quan hệ với họ.
Đây là một tín hiệu rất đáng mừng cho sự phát triển của mối quan hệ giữa người làm PR và nhà báo nói riêng và sự phát triển của PR tại Việt Nam nói chung” [6, tr. Điều này cho thấy việc xây dựng mối quan hệ giữa nhân viên PR và nhà báo trong bối cảnh truyền thông hiện nay luôn đòi hỏi cần có tính chủ động và tương tác lẫn nhau, mục đích chung là hướng đến một mỗi quan hệ gắn kết bền vững, nâng cao hiệu quả tác nghiệp cũng như hợp tác tốt nhất cho cả hai phía. Từ việc phân tích lịch sử nghiên cứu các đề tài nói trên, có thé thấy rằng nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhân viên PR và nhà báo còn những khoảng trống chưa được nghiên cứu, phân tích, luận giải, đặc biệt ở khu vực miền Trung, nơi có nhiều nét văn hóa mang tính địa phương riêng có của đất nước Viêt Nam. Vì vậy, đề tài luận văn tác giả đang nghiên cứu là một hướng mới và không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây.
Với việc tham khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước là tất yêu nhưng tác giả xác định việc nghiên cứu đề tài này phải được thực hiện minh bạch, khách quan, đúng với thực trạng và bối cảnh hiện tại của khu vực miền Trung, để có cái nhìn, cách vận dụng phù hợp về quan hệ truyền thông nhằm tạo hiệu quả tốt nhất cho nghề nghiệp của cả hai nhóm cũng như đảm bảo mối quan hệ này vững vàng bền lâu nhất. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là nhăm tìm hiểu về thực trạng của mỗi quan hệ giữa nhà báo và nhân viên PR ở khu vực miền Trung, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá và đê xuât các giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai bên đê mỗi bên, 16 đặc biệt là nhà báo hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên PR. (2) Tìm hiểu thực trạng mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên PR ở khu vực miền Trung.
(3) Khái quát những van đề đặt ra dựa trên kết quả nghiên cứu thực trạng để từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên PR ở khu vực miền Trung. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mỗi quan hệ giữa nhà báo và nhân viên PR đang hoạt động tại khu vực miền Trung. Trong đó, luận văn tìm hiểu mức độ hiểu biết, tin tưởng, hợp tác, cam kết giữa hai nhóm. Bên cạnh đó luận văn cũng tìm hiểu một số phương pháp hợp tác trong công việc giữa nhà báo và nhân viên PR ở khu vực miền Trung cũng như các vấn đề trong mối quan hệ nghề nghiệp mà họ gặp phải.
Từ đó, luận văn đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác giữa hai nhóm nghề nghiệp rất liên quan đến nhau này. Phạm vi nghiên cứu về mối quan hệ này là các mối quan hệ của nhà báo và nhân viên PR đang tác nghiệp trên địa bàn Da Nang, Quang Nam, Thừa Thiên Huế, thuộc khu vực miền Trung Việt Nam. Thời gian nghiên cứu khảo sát trong hai năm 2020 va 2021. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài, học viên sử dụng kết hợp ba phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp nghiên cứu tài liệu Phương pháp này được sử dụng với mục đích nghiên cứu, thu thập, tham khảo, kế thừa các nguồn tài liệu trong các công bố khoa học đã có của nhiều tác giả khác nhau nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài này.
Dựa trên cơ sở nghiên cứu đó, chúng tôi sử dụng một số nội dung dé so sánh, minh họa đối với các kết quả khảo sát của mình. Đông thời nhăm khăng định các nội dung nghiên cứu của chúng tôi có 17 những kết quả mới mẻ, đóng góp thêm vào sự phong phú, đa dang của những van dé liên quan đến đề tài luận văn. Phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi Tác giả luận văn thiết kế một bộ câu hỏi khảo sát trực tuyến bằng Google biểu mẫu với kết câu bao gồm 14 câu hỏi với nội dung dựa trên 5 tiêu chí: (1) Khảo sát về mức độ hiểu biết về nghề nghiệp của nhau gồm 2 câu hỏi nhằm tìm hiéu các nhìn nhận, đánh giá, sự am hiểu về nghề nghiệp của đôi bên ở mức độ nào: Câu 1) Nhà bao và nhân viên PR biết rõ vai trò, nhiệm vụ của mỗi bên Câu 2) Nhà báo và nhân viên PR làm việc đòi hỏi kỹ năng giao tiếp hiệu quả (2) Khảo sát mức độ tin trởng lẫn nhau gồm 4 câu hỏi nhằm xác định các bên đánh giá sự tin tưởng khi làm việc với nhau như thế nào: Câu 3) Nhà báo và nhân viên PR chân thành với nhau. Câu 4) Nhà báo và nhân viên PR đối xử với nhau công bằng, đúng mực.
Câu 5) Nhà báo và nhân viên PR tin tưởng lẫn nhau. Câu 6) Nhà báo và nhân viên PR giữ lời hứa với nhau. (3) Khảo sát mức độ hài lòng về nhau gồm 3 câu hỏi với mục đích tìm hiểu các bên đánh giá sự hài lòng khi hợp tác, quan hệ với nhau ra sao: Câu 7) Nhà báo và nhân viên PR hài lòng về quá trình di đến các quyết định liên quan đến cả hai bên. Câu 8) Quan hệ giữa nhà báo và nhân viên PR là mối quan hệ có di có lại.
Câu 9) Nhà báo và nhân viên PR cùng đáp ứng nhu cau của nhau. (4) Khao sát mức độ cam kết với nhau gồm 2 câu hỏi dé hiểu rõ hơn tính cam kết của các bên trong việc xây dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ: Câu 10) Nhà báo và nhân viên PR tin rằng việc cô gắng duy trì mối quan hệ với là có lợi. Câu 11) Khi nhà báo và nhân viên PR có việc nhờ vả lan nhau, cả hai bên sẽ nề mặt và giúp đỡ nhau (5) Khảo sát mức độ giữ thể diện cho nhau gồm 3 câu hỏi nhằm tìm hiểu thêm 18 với mối quan hệ giữa nhà báo và nhân viên PR thì họ có các mức độ thé nào nhằm giữ thé diện cho nhau, đặc biệt trong văn hóa giao tiếp, ứng xử: Câu 12) Nhà bdo và nhân viên PR luôn coi trọng viêc han chế xung đội. Câu 13) Nhà báo và nhân viên PR thường thông cảm cho nhau trong một số tình huống khó xử.
Câu 14) Nhà báo và nhân viên PR hạn chế tối đa việc chia sẻ những thông tin thất thiệt của nhau Thông qua các mối quan hệ cá nhân của bản thân, sự giới thiệu của những người được phỏng vấn theo hình thức bông tuyết lăn cũng như tham gia vào các hội nhóm chuyên ngành trên mạng xã hội, tìm kiếm danh sách công bố các cơ quan báo chí, doanh nghiệp tại khu vực miền Trung., học viên thu thập thông tin địa chỉ email, hộp thư Zalo, Facebook của nhà báo và người làm PR rồi lập ra danh sách, lọc lại số lượng. Sau đó tác giả gửi đường link đến 80 nhà bao và 80 nhân viên PR tại khu vực miền Trung, đặc biệt tập trung vào các nhà báo liên quan đến các mảng về doanh nghiệp, thường làm việc với các cơ quan tô chức, công ty có phòng PR và nhân viên PR tại Thành phố Đà Nẵng vì đây là địa bàn có số lượng đông đảo nhất của hai nhóm này nhằm có được kết quả khảo sát chuẩn xác nhất đối với đề tài và hướng nghiên cứu. Phương pháp phỏng van sâu Phương pháp phỏng van sâu tác giả sử dụng nham mục đích tiếp cận thông tin sâu sát, chân thực và khách quan nhất có thể với các nội dung phỏng vấn bám sát vấn đề nghiên cứu nhưng được thiết kế bằng hình thức câu hỏi mở và sử dụng linh hoạt trong quá trình phỏng van trực tiếp hoặc qua nền tảng trực tuyến (Zalo, Zoom. Bằng cách này, chúng tôi được lắng nghe những ý kiến nhìn nhận, đánh giá, góp ý của các nhà báo có thời gian làm việc với nhân viên PR từ hai năm trở lên và ngược lại với những nhân viên PR có thời gian làm việc với các cơ quan báo chí, nhà báo trong khoảng thời gian tương tự.
Thực tế cho thay, các mỗi quan hệ hợp tác được xây dựng, duy trì và phát triển có thời gian lâu dài thì khi được hỏi về nhau chắc chắn sẽ có sự chuân xác trong đánh giá, nhìn nhận lân nhau.