CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu về lòng biết ơn, sự hài lòng cuộc sống và điều chỉnh cảm xúc ở trẻ vị thành niên 1.1 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa lòng biết ơn và sự hài lòng cuộc sống Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa lòng biết ơn và các khía cạnh tâm lý cua con người ở các nhóm khách thể khác nhau. Cụ thể như sau: Tác giả McCullough và cộng sự (2002) đã nghiên cứu về “bức chân dung” cua người có lòng biết ơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, những người biết ơn dường như khác với những người ít biết ơn hơn ở ba lĩnh vực tâm lý: (a) cảm xúc/hạnh phúc, (b) hướng ngoại và (c) tâm linh/tôn giáo. So với những người ít biết ơn hơn, những người biết ơn có nhiều cảm xúc tích cực và sự hài lòng trong cuộc sống hơn và cũng ít cảm xúc tiêu cực như trầm cảm, lo lắng và đố kỵ hơn.
Họ cũng có vẻ có định hướng xã hội hơn ở chỗ họ đồng cảm, tha thứ, giúp đỡ và hỗ trợ nhiều hơn so với những người ít biết ơn. Liên quan đến điều đó, những người biết ơn ít tập trung hơn vào việc theo đuổi các mục tiêu vật chất. Cuối cùng, những người có khuynh hướng biết ơn mạnh mẽ hơn có xu hướng hướng về tâm linh và tôn giáo hơn. Trong nghiên cứu cua Watkins và cộng sự (2003), các tác giả đã phát triển một nghiên cứu đo lường lòng biết ơn và mối quan hệ cua lòng biết ơn với cảm nhận hạnh phúc chu quan.
Nghiên cứu được thực hiện trên hơn 700 khách thể với thang đo The Gratitude, Resentment, and Appreciation Test – GRAT. Kết quả cho thấy, những người biết ơn có xu hướng trở thành những người hạnh phúc, thích nghi tốt và suy nghĩ biết ơn đó sẽ cải thiện tâm trạng. Việc thực hành lòng biết ơn hàng ngày và hàng tuần đã làm tăng một số biến số ảnh hưởng tích cực, bao gồm hạnh phúc chu quan và hy vọng đồng thời làm giảm một số biến ảnh hưởng tiêu cực. Nghiên cứu cũng ung hộ quan điểm cho rằng những người 5 biết ơn có ít nhất ba đặc điểm: họ có cảm giác phong phú (họ không cảm thấy rằng họ đã bị tước đoạt điều gi đó trong cuộc sống), họ sự đánh giá cao những niềm vui đơn giản và họ đánh giá cao sự đóng góp cua người khác cho hạnh phúc cua họ.
Các tác giả Froh và cộng sự (2010) đã nghiên cứu về lòng biết ơn và động lực đóng góp cho xã hội ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Các tác giả đã tiến hành kiểm tra theo chiều dọc lòng biết ơn cua thanh thiếu niên và sự hòa nhập xã hội cua các em. Bên cạnh đó, các tác giả cũng quan sát mức độ hòa nhập xã hội cua thanh thiếu niên - động lực cua họ để cống hiến cho cộng đồng và xã hội. Học sinh trung học cơ sở (N=700) đã hoàn thành các thang đo về lòng biết ơn, hành vi vi xã hội, sự hài lòng trong cuộc sống và hòa nhập xã hội vào thời điểm ban đầu, sau 3 tháng và 6 tháng sau đó.
Kết quả cho thấy lòng biết ơn và sự hòa nhập xã hội có sự tác động lẫn nhau. Lòng biết ơn giúp học sinh phát triển hạnh phúc về mặt cảm xúc và xã hội. Lòng biết ơn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển tích cực cua giới trẻ. Bono và cộng sự (2013) trong nghiên cứu tổng quan tài liệu về sức mạnh cua lòng biết ơn và những giá trị con người nhận được khi thực hành lòng biết ơn chỉ ra rằng những người có khuynh hướng biết ơn có xu hướng trải nghiệm cuộc sống mạnh mẽ hơn hướng về người khác nhiều hơn và cho nhiều thứ hơn trong cuộc sống cua họ tại bất kỳ thời điểm nào.
Lòng biết ơn giúp các cá nhân hinh thành và cung cố các mối quan hệ xã hội, lãng mạn và hôn nhân. Những thanh thiếu niên bước vào trường trung học với mức độ biết ơn vưa phải và thể hiện sự tiến bộ ổn định trong suốt thời gian học trung học cũng cho biết các em cảm thấy đồng cảm hơn, tự nhận thức, tự tin vào năng lực bản thân, tự điều chỉnh và đặt mục tiêu cho tương lai cũng như ý thức đồng nhất mạnh mẽ hơn với chính minh, với cộng đồng. Các tác giả Hàn Quốc với nghiên cứu về lòng biết ơn và sự hài lòng trong cuộc sống ở tuổi vị thành niên (2018) đã chỉ ra mối quan hệ giữa lòng biết ơn và 6 sự hài lòng trong cuộc sống cua 877 thanh thiếu niên Hàn Quốc: tác động trung gian cua hỗ trợ xã hội và những khó khăn về cảm xúc. Kết quả cua nghiên cứu cho thấy những người có lòng biết ơn cao hơn ở tuổi thanh thiếu niên cho biết họ có nhiều cảm giác hài lòng với cuộc sống tích cực hơn.
Hơn nữa, sự hỗ trợ xã hội và những khó khăn về mặt cảm xúc được cho là có vai trò trung gian cho mối quan hệ giữa lòng biết ơn và sự hài lòng trong cuộc sống. Các phát hiện cho thấy rằng những sinh viên biết ơn nhận thấy rằng có nhiều hỗ trợ xã hội hơn và gặp ít khó khăn về mặt cảm xúc hơn, tư đó cảm thấy hài lòng hơn với cuộc sống. Không tim thấy sự khác biệt về giới tính trong mối quan hệ giữa lòng biết ơn và sự hài lòng trong cuộc sống. Với nghiên cứu “Lòng biết ơn và sự an lạc cua trẻ vị thành niên - góc nhin tư tâm lý học tích cực”, tác giả Nguyễn Phước Cát Tường (2020) và cộng sự đã sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng quan hệ thống và trinh bày tóm tắt các kết quá một cách khách quan.
Nghiên cứu đã đề cập tới mô hinh nội hàm khái niệm lòng biết ơn ở trẻ vị thành niên: Lòng biết ơn bao gồm mức độ cảm xúc, thái độ trân trọng; trân trọng, đánh giá cao giá trị cua người khác; tập trung vào những gi con người có; cảm thấy yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên; hành vi thể hiện sự trân trọng, cảm kích; tập trung vào sự tích cực cua giây phút hiện tại; trân trọng vi cuộc đời quá ngắn ngui và so sánh với người khác để thấy minh may mắn hơn. Bên cạnh đó, bài viết cũng tập hợp, chọn lọc, phân tích và thảo luận những nghiên cứu trên thế giới về mối quan hệ giữa lòng biết ơn và sự an lạc ở trẻ vị thành niên, những chương trinh can thiệp nhằm nâng cao lòng biết ơn cua trẻ vị thành niên theo tiếp cận Tâm lý học Tích cực. Kết quả các nghiên cứu cho thấy, lòng biết ơn và sự an lạc cua trẻ vị thành niên có mối tương quan thuận. Các chương trinh can thiệp đem lại hiệu quả tích cực, tạo nên sự chuyên hóa nhất định về lòng biết ơn cho trẻ vị thành niên cũng như sự an lạc cua trẻ.
Nghiên cứu “Lòng biết ơn và sự hài lòng với cuộc sống” cua tác giả Trương Thị Khánh Hà (2019) được thực hiện trên 787 người tư 17 đến 55 tuổi, 7 sử dụng thang đo Lòng biết ơn, Sự oán giận và Sự cảm kích (Gratitude, Resentment and Appreciation Test – GRAT) bản rút gọn. Kết quả nghiên cứu cho thấy thang đo GRAT phiên bản tiếng Việt có độ tin cậy cao và có 3 thành tố là Sự cảm kích, Sự oán giận, Biết ơn cuộc sống và mọi người. Tuy nhiên, cụm tư “sự oán giận” có chiều hướng ngược lại với lòng biết ơn nên theo các tác giả, không nên để sự oán giận như 1 thành tố cua thang đo lòng biết ơn. Hơn nữa, nếu tách riêng tiểu thang đo Sự oán giận ra khỏi thang đo GRAT thi thang đo Lòng biết ơn sẽ bao gồm 2 thành tố “sự cảm kích” và “biết ơn cuộc sống và trân trọng mọi người”, thang đo có cấu trúc chặt chẽ và có sự nhất quán bên trong cao hơn.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lòng biết ơn có tương quan thuận với sự hài lòng với cuộc sống. Điểm trung binh lòng biết ơn ở phụ nữ cao hơn nam giới, lòng biết ơn ở nhóm khách thể lớn tuổi cao hơn so với nhóm khách thể trẻ tuổi. Mối tương quan thuận giữa lòng biết ơn và sự hài lòng với cuộc sống cho thấy nó là một thành phần quan trọng cho cuộc sống tốt đẹp. Tư việc điểm luận một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về đề tài lòng biết ơn và sự hài lòng cuộc sống, quan điểm chung cua các tác giả là lòng biết ơn có mối tương quan thuận tích cực với sự hài lòng cuộc sống.
Khi cá nhân có lòng biết ơn cao với cuộc sống và mọi người, cá nhân đó có sự trải nghiệm về hài lòng cuộc sống, các tương tác xã hội với những người xung quanh tốt hơn và có cảm nhận hạnh phúc chu quan cao hơn. Chu đề lòng biết ơn và sự hài lòng cuộc sống đã được rất nhiều tác giả trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chu đề này còn ít được tim hiểu, khám phá, đặc biệt là nghiên cứu trên khách thể vị thành niên. Vi thế, đây cũng là một khoảng trống cần được chú trọng nghiên cứu thêm.2 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa điều chỉnh cảm xúc và sự hài lòng cuộc sống Nhiều nghiên cứu về điều chỉnh cảm xúc chỉ ra cách các cá nhân sử dụng các chiến lược khác nhau để điều chỉnh cảm xúc và trải nghiệm các trạng thái 8 cảm xúc cua họ theo hướng tích cực, theo đó sẽ thúc đẩy sự hài lòng cuộc sống.
Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa điều chỉnh cảm xúc và sự hài lòng cuộc sống cụ thể như sau: Tác giả Haga và cộng sự (2009) đã chỉ ra trạng thái cảm xúc là một yếu tố dự báo về sức khỏe và việc điều chỉnh cảm xúc thành công là cần thiết cho hoạt động thích ứng. Tuy nhiên, mọi người thường không thành công trong việc điều chỉnh cảm xúc cua minh. Các tác giả đã nghiên cứu khả năng đánh giá lại nhận thức và kim nén cảm xúc ở 489 sinh viên đại học ở Na Uy, Úc và Hoa Kỳ và cách những chiến lược này liên quan đến các khía cạnh hạnh phúc (ảnh hưởng, sự hài lòng trong cuộc sống và tâm trạng). Dữ liệu được thu thập bằng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.