Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền dẫn tỷ giá và lạm phát tại Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu 2.1 Lý thuyết truyền dẫn tỷ giá hối đoái 2.1 Định nghĩa cơ bản về tỷ giá hối đoái và lạm phát: - Tỷ giá hối đoái: O'Sullivan, Arthur; Steven M. Sheffrin (2003): Tỷ giá hối đoái giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác.
Nó cũng được coi là giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác. - Định nghĩa lạm phát: Theo N. Gregory Mankiw (2010): Trong kinh tế vĩ mô, lạm phát là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.
Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác. Theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả".
Bryan (1997): Sự gia tăng cung tiền có thể được gọi là lạm phát tiền tệ, để phân biệt với sự tăng giá cả, mà cũng có thể được gọi cho rõ ràng là lạm phát giá cả. Trong bài này ta sử dụng định nghĩa lạm phát giá cả để tiến hành nghiên cứu. - Đo lường lạm phát: Taylor & Hall (1993), sử dụng chỉ số giá tiêu dùng (consumer price index – CPI) để tính lạm phát. CPI là là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian.
Thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 tiêu dùng. Như vậy, ta thấy rằng chỉ số CPI là thước đo của lạm phát.2 Định nghĩa truyền dẫn tỷ giá hối đoái: Có nhiều định nghĩa được nêu ra về truyền dẫn tỷ giá hối đoái, trong đó theo Jonathan McCarthy (2000) thì xem xét dưới góc độ là mức chuyển của tỷ giá và giá nhập khẩu đến giá cả sản xuất nội địa PPI và giá tiêu dùng CPI. Goldberg và Knetter (1997) lại cho rằng, khái niệm về truyền dẫn tỷ giá hối đoái thường được hiểu rộng hơn, đó là truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi một phần trăm. Các chỉ số giá trong nước bao gồm chỉ số giá nhập khẩu, chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá tiêu dùng.
Khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong bài nghiên cứu của các tác giả ở nhóm nước đang phát triển; do đó trong luận văn này ERPT được nhìn nhận là “sự thay đổi của tỷ lệ lạm phát dưới tác động của sự thay đổi trong tỷ giá danh nghĩa”. Cơ chế truyền dẫn tỷ giá có thể diễn ra một cách hoàn toàn, không hoàn toàn hoặc không xảy ra tùy vào đặc điểm kinh tế của từng quốc gia. Khi cơ chế này xảy ra hoàn toàn, 1% phá giá nội tệ sẽ làm tăng 1% giá cả nội địa và ngược lại. Nếu đồng nội tệ phá giá nhưng không làm thay đổi giá cả tính bằng nội tệ, ta nói rằng cơ chế truyền dẫn tỷ giá đã không xảy ra.
Trường hợp 1% phá giá làm tăng giá cả ít hơn 1% khi cơ chế truyền dẫn tỷ giá diễn ra không hoàn toàn. Nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng trong ngắn hạn truyền dẫn tỷ giá vào giá cả là không hoàn toàn và có sự khác biệt ERPT giữa các quốc gia.3 Mối liên hệ giữa lạm phát và truyền dẫn tỷ giá - Sự sụt giảm của truyền dẫn tỷ giá có liên quan đến môi trường lạm phát thấp và truyền dẫn tỷ giá có mức độ khác nhau khi xem xét sự tăng giá và giảm giá, nghĩa là truyền dẫn bất cân xứng. ERPT sẽ thấp hơn trong môi trường lạm phát ổn định so với thời kỳ lạm phát cao. Ngược lại, trong thời kỳ khủng hoảng, lạm phát cao kéo theo sự tăng lên trong mức độ truyền dẫn tỷ giá, ERPT cao hơn (Taylor (2000)).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Sự tương quan giữa lạm phát và truyền dẫn là dương. Tỷ giá tăng tạo sức ép khiến lạm phát trong nước gia tăng, và ngược lại (Choudhri và cộng sự (2006)).2 Các kênh truyền dẫn của tỷ giá hối đoái đến giá trong nước Theo nghiên cứu của Lafleche (1996), Những thay đổi trong tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ lạm phát thông qua các chỉ số giá theo hai kênh là trực tiếp và gián tiếp. - Kênh truyền dẫn trực tiếp: Khi đồng nội tệ giảm giá, giá cả hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn, tức ảnh hưởng đến chỉ số giá nhập khẩu. Nếu hàng hóa đó được dùng cho mục đích tiêu dùng cuối cùng, giá nhập khẩu sẽ ảnh hưởng lên chỉ số giá tiêu dùng; hoặc nếu hàng hóa nhập khẩu là nguyên nhiên vật liệu dùng cho quá trình sản xuất, sẽ khiến chi phí sản xuất tăng cao, và như một hệ quả đẩy giá tiêu dùng tăng, gây ra áp lực lạm phát.
- Kênh truyền dẫn gián tiếp: Hàm ý khi có sự mất giá của đồng nội tệ, sẽ khiến hàng hóa trong nước rẻ hơn, xuất khẩu gia tăng. Điều này sẽ gây ra một gia tăng trong cầu lao động, tiền lương và sau đó là tổng cầu, như một hệ quả, có thể khiến lạm phát tăng. Tuy nhiên, ảnh hưởng này chỉ có thể diễn ra trong dài hạn, vì tính chất cứng nhắc của giá cả trong ngắn hạn. Bên cạnh đó, tình trạng đô la hóa ngày càng tăng trong nền kinh tế có thể là một nhân tố làm khuếch đại hiệu ứng truyền dẫn gián tiếp này.
Một khi tỷ giá biến động tăng, đồng nội tệ mất giá sẽ khiến cho giá cả các tài sản được định giá bằng đồng ngoại tệ (như bất động sản, hàng hóa xa xỉ như ô tô…) sẽ tăng lên. Và đây là nguyên nhân khiến giá cả tiêu dùng tăng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Đồng nội tệ mất giá (tỷ giá hối đoái tăng) Kênh trực tiếp Kênh gián tiếp Giá cả Cầu hàng hóa Cầu xuất khẩu nguyên liệu Hàng hóa thay thế trong tăng nhập khẩu nhập khẩu tăng giá nước tăng đầu vào tăng giá Cầu lao động tăng Làm tăng giá cả sản xuất trong Làm tăng giả nước tăng cả hàng hóa thay thế và xuất khẩu Tiền lương tăng Giá tiêu dùng tăng Hình 2.Cơ chế truyền dẫn tỷ giá đến giá trong nước (Nguồn: Nghiên cứu của Lafleche (1996), trang 23) Lafleche (1996) giới thiệu sơ đồ về truyền dẫn của tỷ giá đến giá cả trong nước thông qua kênh trực tiếp và gián tiếp như hình 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Truyền dẫn tỷ giá là phi tuyến Bài viết được dựa theo tổng hợp các lý thuyết nghiên cứu về tính phi tuyến của truyền dẫn tỷ giá Nidhaleddine Ben Cheikh và cộng sự (2012, trang 5-7).
Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều giả định sự truyền dẫn tỷ giá là tuyến tính. Tuy nhiên, các lý thuyết thực tiễn đóng góp một phần nhỏ đến vấn đề phi tuyến và bất đối xứng trong sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái. Thực tế, có nhiều trường hợp khác nhau có thể tạo sự bất đối xứng trong cơ chế truyền dẫn. Theo các lý thuyết Gil-Pareja (2000) và Olivei (2002), khả năng truyền dẫn bất cân xứng có thể tăng lên đối với chiều hướng thay đổi tỷ giá, nghĩa là, phản ứng lại với sự tăng giá và mất giá của tiền tệ.
Theo Coughlin và Pollard (2004) và Bussière (2007), mức độ truyền dẫn cũng phản ứng bất đối xứng với quy mô thay đổi của tỷ giá, bởi vì có sự tác động khác nhau của những thay đổi tỷ giá lớn so với những thay đổi tỷ giá nhỏ. Có một số lý thuyết cho rằng khả năng tiềm ẩn mối quan hệ phi tuyến giữa tỷ giá và mức giá cả, chủ yếu, chúng ta đề cấp đến ba lý do cho khả năng ERPT là phi tuyến: + Mục tiêu thị phần: Khi đồng tiền của quốc gia nhập khẩu mất giá, hàng hóa nước ngoài trở nên đắt hơn đối với người tiêu dùng trong nước, các doanh nghiệp nước ngoài có thể điều chỉnh lại mức giá để duy trì thị phần. Tuy nhiên, với trường hợp đồng tiền của quốc giá nhập khẩu tăng giá, hàng hóa của họ trở trên rẻ đối với người tiêu dùng trong nước, họ duy trì mức tăng giá của đồng tiền quốc gia nhập khẩu và chấp nhận giá nhập khẩu giảm trong đồng tiền của thị trường đến. Do đó, mức độ truyền dẫn tỷ giá sẽ khác nhau đối với chiều hướng thay đổi của tỷ giá.
Nếu các doanh nghiệp cố gắng duy trì sự cạnh tranh và duy trì thị phần, thì sự tăng giá đồng tiền của quốc gia nhập khẩu có thể gây ra truyền dẫn cao hơn sự mất giá. + Những ràng buộc: cũng như đã được đề cập trong các lý thuyết kinh tế vi mô, đa số doanh nghiệp có thể bị những hạn chế trong ngắn hạn. Thực tế là, đối mặt với sự tăng giá của đồng tiền quốc gia nhập khẩu, các nhà xuất khẩu sẽ gia tăng năng lực cạnh tranh về giá bằng việc chuyển những thay đổi trong tỷ giá vào trong mức giá của họ. Nhưng nếu các doanh nghiệp thực sự có đủ năng lực mà khả năng gia tăng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 doanh số trong thị trường đến bị giới hạn, họ có thể giá tăng lợi nhuận của mình bằng cách duy trì mức giá hiện tại thay vì hạ thấp mức giá theo đồng tiền của nhà nhập khẩu.