CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về trầm cảm 1. Thực trạng về rối loạn trầm cảm ở lứa tuổi thanh thiếu niên Rối loạn trầm cảm ở tuổi vị thành niên là phổ biến trên toàn thế giới.
Tỷ lệ hiện mắc trong 1 năm là hơn 4%, cao hơn ở các em gái, tăng cao sau tuổi dậy thì và đến cuối tuổi thanh thiếu niên. Gánh nặng cao nhất ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Trầm cảm có liên quan đến bệnh tật hiện tại và tương lai đáng kể và làm tăng nguy cơ tự sát [56]. Ở một số nước châu Âu, tỷ lệ thanh thiếu niên bị trầm cảm dao động từ 7,1% đến 19,4%.
Trong đó tỷ lệ trầm cảm theo thứ tự tăng dần là: Hungary: 7,1%, Áo: 7,6%, Romania: 7,6%, Estonia: 7,9%, Ireland: 8,5%, Tây Ban Nha: 8,6%, Ý: 9,2%, Slovenia: 11,4%, Đức: 12,9%, Pháp: 15,4%, Isrsel: 19,4% [9]. Một nghiên cứu ở miền bắc Iran trên 783 thanh thiếu niên (433 nam và 350 nữ) từ 15 - 19 tuổi. Kết quả cho thấy trầm cảm phổ biến trong mẫu với 29,5% ở nam và 17,8% ở nữ có điểm trầm cảm cao [83]. Ở Mỹ, các Khảo sát Quốc gia về Sử dụng Ma túy và Sức khỏe từ năm 2005 đến 2014, cho thấy tỷ lệ trầm cảm chủ yếu trong vòng 12 tháng trong độ tuổi từ 12 đến 20 tuổi tăng từ 8,7% năm 2005 lên 11,3% năm 2014 ở thanh thiếu niên và từ 8,8% đến 9,6% ở người trẻ tuổi [43].
Ở Canada, lứa tuổi từ 15 đến 24 ước tính có khoảng 11% bị trầm cảm suốt đời và 7% đã trải qua trầm cảm trong một năm. Trong số những người bị trầm cảm, 61% đã nói chuyện với một chuyên gia về các triệu chứng của họ trong cuộc đời của họ [20]. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu cắt ngang trên học sinh công lập ở Ấn Độ bằng hai công cụ GHQ-12 và BDI, ngoài ra thu thêm dữ liệu về yếu tố nhân khẩu và xã hội học (như thành tích học tập, bắt nạt học đường, tình trạng hôn nhân của cha mẹ). Kết quả: 15,2% thanh thiếu niên đi học được phát hiện có bằng chứng về sự đau khổ; 18,4% bị trầm cảm; 5,6% học sinh được phát hiện có điểm số dương trên cả haicông cụ [10].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đặng Hoàng Minh và Nguyễn Cao Minh (2012) trên lứa tuổi 12 đến 16 ở một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ lệ thu mình trầm cảm là 6,6 % [4]. Một nghiên cứu theo chiều trên thanh thiếu niên từ 10 đến 24 tuổi, số liệu thu thập vào 3 đợt 2006, 2009 và 2013 cho thấy điểm trầm cảm trung bình tương ứng cho 3 đợt lần lượt là 29,76, 30,80 và 30,51. So với nam, nữ có các triệu chứng trầm cảm ban đầucao hơn và độ tuổi có điểm trầm cảm cao nhất là từ 15 đến 17 tuổi [12]. Nghiên cứu cắt ngang đánh giá về lo âu, trầm cảm, tự sát được thực hiện trong số 1161 học sinh trung học ở thành phố Cần Thơ (2011), kết quả ước tính tỷ lệ mắc các triệu chứng đạt đến ngưỡng tương đương với chẩn đoán lo lắng và trầm cảm lần lượt là 22,8% và 41,1% [59].
Một nghiên cứu của giáo sư Michael dunne – Đại học công nghệ Queensland (Australia) tại Việt Nam: Cứ 6 – 7 người trẻ tuổi là người Việt Nam được phỏng vấn thì một người cho rằng họ cảm thấy buồn, thất vọng, không có giá trị so với người khác, hộ khóc, ngủ không yên và ăn không ngon. Các yếu tố có liên quan đến trầm cảm Trong nghiên cứu về trầm cảm cũng có rất nhiều tác giả đã tìm hiểu các yếu tố nguy cơ về trầm cảm đối với thanh thiếu niên. Bài báo của Garber và Judy nhấn mạnh nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ trầm cảm ở trẻ em và vị thành niên và liên kết với kiến thức hiện tại về các can thiệp nhằm ngăn ngừa 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trầm cảm ở tuổi trẻ [24]. Các nghiên cứu về dịch tễ học và lâm sàng cơ bản chỉ ra rằng tăng nguy cơ trầm cảm có liên quan đến giới nữ, gia đình có tiền sử có người bị trầm cảm, các sự kiện cuộc sống căng thẳng, khí chất, nhận thức tiêu cực, vấn đề tự điều chỉnh và đối phó, rối loạn chức năng cá nhân, các yếu tố phát triển, giới tính, nội tiết.
Những điểm yếu này làm tăng cơ hội gặp phải căng thẳng và giảm khả năng đối phó với căng thẳng khi nó xảy ra [65]. Khảo sát ở Mỹ cho rằng hầu hết các trường hợp mắc trầm cảm chính co liên quan đến bệnh đồng diễn và suy giảm hoạt động chức năng [7]. Ở Malaysia, khảo sát sức 2012 bằng bẳng hỏi sức khỏe trầm cảm – lo âu – stress (DASS21). Nghiên cứu cho thấy 17,7% số người được hỏi có triệu chứng trầm cảm.
Phân tích đa biến cho thấy cảm giác cô đơn 2,99%; Dân tộc Ấn Độ 2%; sử dụng ma túy1,85% và bị bắt nạt 1,79% có liên quan đáng kể với các triệu chứng trầm cảm. Việc thiếu sự giám sát của cha mẹ, sử dụng rượu và sử dụng thuốc lá cũng là những yếu tố nguy cơ đáng kể. Giải quyết các triệu chứng trầm cảm ở thanh thiếu niên có thể có ý nghĩa đối với việc quản lý rủi ro bị bắt nạt và sử dụng chất gây nghiện [32]. Ở Mỹ một cuộc khảo sát cắt ngang trên 713 học sinh ở độ tuổi 14-17 sống và học tập tại các trường trung học ở Yerevan.
Tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm có thể xảy ra trong nhóm nghiên cứu là 16,7%, trong đó 6,2% đối với nam và 21,6% đối với nữ, nghiên cứu đã xác định các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến sự phát triển của trầm cảm, bao gồm cả giới tính nữ, cha mẹ bị ly dị hoặc ly thân,trẻ sống với cha hoặc mẹ, tình hình kinh tế của cha mẹ, gặp rắc rối với bạn cùng lớp, không hài lòng với điều kiện nhà ở, lòng tự trọng thấp [62]. Dưới góc nhìn Tâm lý học, bài viết của Hankin và Benjamin L quan tâm tới dich tễ học và các yếu tố nguy cơ dẫn tới trầm cảm bao gồm di truyền, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoàn cảnh, stress, tính khí, cảm xúc, phần thưởng, quá trình nhận thức và các hoạt động liên quan đến cá nhân [28]. Trên nghiên cứu 1587 trẻ em ở 4 huyện phía đông bắc Uganda (Châu Phi) tỷ lệ rối loạn trầm cảm là 8,6% với các yếu tố liên quan do môi trường sống, bạo lực gia đình, các bệnh lý tâm thần, tự tử, rối loạn lo âu, rối loạn ăn uống, rối loạn vận động và rối loạn hành vi và phát triển [34]. Tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên Trung Quốc cao và các yếu tố có liên quan đến trầm cảm là gia đình, các yếu tố xã hội, quan hệ ngang hàng, giới tính, tuổi tác, béo phì, hình ảnh cơ thể và dân tộc [71].
Các nghiên cứu về không hoạt động ở lứa tuổi thanh thiếu niên 1. Thực trạng về không hoạt động ở lứa tuổi thanh thiếu niên Hoạt động thể chất liên quan đến một số lợi ích sức khỏe, bao gồm giảm nguy cơ tử vong sớm, bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư đại trực tràng, béo phì,tăng huyết áp. Bên cạnh tác động tích cực của nó đối với sức khỏe thể chất, tích cực hoạt động thể chất cũng giúp cải thiện sức khỏe tâm thần và giảm tỷ lệ trầm cảm [53]. Nghiên cứu cắt ngang trên 1.455 thanh thiếu niên trường công lập ở Uruguay và bang Rio Grande do Sul - Brazil, kết quả ghi nhận tỷ lệ không hoạt động thể chất là 68% những người ở nhà thuê, giới tính nữ, thanh thiếu niên lớn tuổi tự đánh giá hoạt động thể chất thấp hơn so với bạn bè [13].
Đánh giá có hệ thống về mức độ phổ biến của không hoạt động thể chất trên toàn thế giới: Tỷ lệ không hoạt động thể chất dao động từ 18,7% đến 90,6% với trung bình là 79,7%. Tỷ lệ ở trẻ em gái cao hơn trẻ em trai và các nước đang phát triển có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn [62]. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Moraes và cộng sự đánh giá về 15 nghiên cứu về mức độ hoạt động vừa và mạnh, tỷ lệ thiếu hoạt động dao động từ 18,7% đến 90,6% trung bình là 79,7%. Trong đótỷ lệ thiếu hoạt động ở trẻ em gái cao hơn trẻ em trai và các nước đang phát triển chiếm tỷ lệ cao hơn [45].
Ở Mỹ hoạt động thể chất ở thanh thiếu niên sụt giảm nghiêm trọng, theo một nghiên cứu năm 2008, 90% từ 9 đến 11 tuổi trẻ em tập thể dục một giờ mỗi ngày, nhưng ở trẻ em 15 tuổi chỉ 30% [62]. Một công bố khác về hành vi hoạt động thể chất của người trẻ khoảng gần 24% trẻ em từ 6 đến 17 tuổi tham gia 60 phút hoạt động thể chất mỗi ngày. Trong năm 2017, chỉ có 26,1% học sinh trung học tham gia ít nhất 60 phút mỗi ngày hoạt động thể chất trong một tuần. Trong năm 2017, 51,1% học sinh trung học đã tham gia các bài tập tăng cường cơ bắp (ví dụ: chống đẩy, ngồi dậy, nâng tạ) vào 3 ngày trở lên trong tuần, nhưng chỉ có 29,9% học sinh trung học tham gia các lớp học giáo dục thể chất hàng ngày [66].
Ở Anh mức độ hoạt động thể chất thấp, chỉ có 35% nam giới và 24% nữ giới đạt được 30 phút hoạt động thể chất cường độ vừa phải ít nhất năm lần một tuần. Đàn ông có xu hướng năng động hơn phụ nữ ở mọi lứa tuổi, và có sự suy giảm rõ rệt trong hoạt động thể chất với độ tuổi ở cả hai giới. Trẻ em năng động hơn người lớn, 17% bé trai và 61% bé gái đạt được 60 phút hoạt động thể chất cường độ vừa phải mỗi ngày. Các bé trai có xu hướng năng động hơn các bé gái và có sự suy giảm trong hoạt động thể chất khi trẻ đến tuổi thiếu niên, điều này được ghi nhận nhiều hơn ở các bé gái [76].
Ở Canada, một nghiên cứu trên 7982 (4034 nam, 3948 nữ) khách thể tuổi từ 12 đến 19 cho thấy 50,3% nam và 67,8% nữ không vận động thể chất [35]. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Singh và cộng sự (2008) khảo sát giữa tính độc lập và liên kết giữa một số nền kinh tế xã hội, đặc điểm hành vi và vùng địa lý về mức độ hoạt động thể chất và tỷ lệ không hoạt động trên 68.288 trẻ em Mỹ từ 6 – 17 tuổi.