CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOẠT DONG THE CHAT VÀ NGUY CƠ TRAM CAM Ở HỌC SINH THPT. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hoạt động thẻ chat và nguy cơ tram cảm COC sinh THÍ :cioctiiiiiiestisiiiigiiE000250620010361565165616565166530855555355350838851124358213883588518548885 5 1. Mot s6 van dé lý luận về hoạt động thé chất và nguy cơ trầm cảm. Dac diém tam sinh lý của thanh niên học SiMh.
Lý luận về mỗi quan hệ giữa hoạt động thé chat và nguy cơ tram cảm của học TIÊU KEETCGHUONG Tgggeaaaeaaeneoenoonnooaaaiaaaaoaaoaaaaoanoaoaanag 40 CHƯƠNG 2: KET QUÁ NGHIÊN CỨU MOI QUAN HỆ GIỮA HOẠT DONG THE CHAT VÀ NGUY CƠ TRAM CẢM Ở HỌC SINH THPT. Kết quả nghiên cứu mỗi quan hệ giữa hoạt động thé chất và nguy cơ tram cảm ở học sinh THPT.- 2: St 145211121111 21112111111111111711 11T Hư à 1211111220 44 TIỂU KET CHƯƠNG 2.65 KET LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ,. 69 TÀI LIEU THAM KHẢO. Lý do chon đề tai Một trong những rỗi loạn tâm thần được quan tâm nhiều nhất là rỗi loạn trằm cảm, đặc biệt là khi nó càng ngày càng phổ biến trong những năm gan đây.
Thống kê của Viện Sức khỏe tâm than Quốc gia (National Institute of Mental Health — NIMH) về tỉ lệ lưu hành của rồi loạn tram cảm trên những người trưởng thành ở Mỹ cho thấy: ước tính có khoảng 21,0 triệu người trưởng thành ở Hoa Kỳ đã có ít nhất một giai đoạn tram cảm nghiêm trọng, con số này đại diện cho 8,4% tong số người trưởng thành ở Hoa Kỳ; tỉ lệ mắc giai đoạn tram cảm chính ở nữ trưởng thành cao hơn (10,59%) so với nam (6.2%): tỉ lệ người lớn mắc giai đoạn tram cảm nặng cao nhất ở những người từ 18-25 tuổi (17,0%) (NIMH, 2022). Đặc biệt, các báo cáo về sức khỏe tinh thần của trẻ em tại Mỹ cho thay: trong giai đoạn 2016 — 2019, ước tính có 4.4% (tương ứng với khoảng 2,7 triệu) trẻ em từ 3-17 tuôi từng được chẩn đoán có mắc rối loạn trằm cảm. Đối với thanh thiểu niên, tram cảm, sử dung chất kích thích và tự tử là những mỗi quan tâm quan trọng. Trong số thanh thiếu niên từ 12-17 tudi trong năm 2018-2019 báo cáo: 15.1% có giai đoạn tram cảm nặng; 36,7% có cảm giác buôn bã hoặc tuyệt vọng dai đăng; 18,8% nghiêm túc có ý định tự tir; 15.7% lên kế hoạch tự sat; 8,9% đã cô gang tự tử; 2.5% có nỗ lực tự từ cần được điều trị y tế (NIMH, 2022).
Dối với tình hình trong nước, thong kê của Viện Sức khỏe tam thần - Bệnh viện Bạch Mai cho thay tại Việt Nam, hiện có khoảng 30% dân số có rỗi loạn tâm than, trong đó tỉ lệ tram cảm chiếm 25%. Mỗi năm, số người tự sát đo trâm cảm ở nước ta từ 36. Có thể thay, cho dù là bat ké độ tuôi nào, việc mắc rồi loạn tram cảm trong dan số chung la không hiếm gặp. Lửa tuôi thanh niên học sinh là độ tuôi chuyên mình từ trẻ em thành người lớn.
là giai đoạn đầu của tudi thanh niên, độ tuổi có nhiều chuyển biến quan trọng cả vẻ tâm lý lẫn sinh ly, đặt ra day thách thức cho các em trong nhiều mặt của đời sống. Điều này gây ra những tác động nhất định đến sức khỏe tâm thần của học sinh. Thông kê của Trung tâm Kiém soát Dịch bệnh trên trẻ em Mỹ trong 2018 — 2019 cho thay: 15,1% có giai đoạn trầm cảm nặng; 36.7% có cảm giác buôn bã hoặc tuyệt vọng dai dang; 4.1% bị rồi loạn sử dụng chat kích thích; 1,6% bị rỗi loạn sử dụng rượu; 3,2% mắc chứng rối loạn sử dụng ma tuý bat hợp pháp. Bên cạnh đó, He, Fan, Liu, Li, Wang, Williams, & Wong (2012) cũng nhận định tuôi tác là một trong những yếu tô quan trọng nhất ảnh hưởng đến tỉ lệ mắc bệnh trầm cảm.
Đặc biệt, những khó khăn về cảm xúc và quy định của nó có thé quan trọng đôi với căn nguyên va điễn tiền của tram cảm (Hughes và cộng sự. Học sinh phải đối mặt với những vẫn đề khó khăn trong giai đoạn phát triên này và khó thích nghi với những thay đôi này có thé ảnh hướng xấu đến sức khỏe tâm than của chúng. các van dé về hành vi và tâm lý trong giai đoạn cuỗi thời thơ au và thanh thiếu niên có thé là những chỉ số hữu ích về nguy cơ mắc bệnh trầm cảm ở người trưởng thành (Kosterman và cộng sự, 2009). Bàn vẻ hoạt động thê chất và các ích lợi của nó, Richard Nicolls (2017) cho rằng: Rèn luyện thân thé chi đơn gián điều chỉnh các hóa chất trong não dé lưu giữ trạng thái bình ôn.
Rèn luyện thân thé giúp đảo ngược quá trình phá hủy tế bào, nâng cao chức năng của hệ tim mach, tăng cường hệ miễn dịch, củng cô xương và bồi đưỡng tính kha biến thân kinh, từ đó cải thiện khả nang học tap, ghi nhớ và thực hiện các quá trình suy nghĩ cap độ cao của não bộ." Đây là một phương pháp không mới nhưng khá hiệu quả và tiết kiệm chi phí. tuy nhiên ít được áp dụng trong trị liệu rồi loạn tâm thần. Bên cạnh đó, hoạt động thé chất đem lại nhiều tiềm năng thú vị. Nó giúp giải quyết tình trạng sự tập trung và tâm trạng bị tôn hại bởi quá trình lão hóa, rối loạn tăng động giảm chú ý và tram cảm.
Nó cũng giúp cải thiện tâm trạng, khả năng tập trung và khả năng chống áp lực cho mọi người (Basso và Suzuki, 2017). Từ cuối thé ki XX đến nay, vẫn dé hoạt động thé chất và tram cảm đang được nghiên cứu ngày càng nhiều hơn. Nhiều đề tài về mỗi quan hệ giữa hoạt động thé chất và trằm cảm cũng đã được thực hiện, đặc biệt là trên đối tượng học sinh THPT, tuy nhiên, da số đề tài lại tập trung vào rối loan tram cảm hoặc các yếu tổ nguy cơ của tram cảm hơn. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đẻ tài “Mối quan hệ giữa hoạt động thể chất và nguy cơ trằm cảm ở học sinh trung học phô thông” được xác lập.
Mục đích nghiên cứu Xác định mức độ hoạt động thé chất và nguy cơ tram cảm ở học sinh THPT, từ đó đánh giá môi quan hệ giữa hoạt động thé chat và nguy cơ tram cảm ở học sinh THPT. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu Học sinh THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Đối tượng nghiên cứu Mối quan hệ giữa hoạt động thé chất và nguy cơ tram cảm ở học sinh THPT.
Giả thuyết nghiên cứu - Hoạt động thé chat có tương quan nghịch với nguy cơ tram cảm ở học sinh. - Có sự khác biệt về môi quan hệ giữa hoạt động thé chất và nguy cơ tram cảm ở học sinh trường công lập, trường bán công và trường tư thục. Nhiệm vụ nghiên cứu Với các mục đích nghiên cứu nêu trên, đẻ tài thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu Sau: - Hệ thông hóa các van đề nghiên cứu liên quan đến đẻ tai như: hoạt động thé chất, nguy cơ tram cảm, mỗi liên hệ giữa hoạt động thé chất va nguy co tram cảm, đặc điểm tâm lý lứa tuôi thanh niên học sinh. - Khảo sat thực trang vả đánh giá mỗi liên hệ giữa hoạt động thé chat và nguy cơ tram cảm ở học sinh THPT.
Giới hạn nghiên cứu a. Về nội dung Dé tải tiếp cận khái niệm hoạt động thé chat (physical activity) theo định nghĩa về hoạt động thé chat của Tổ chức Y tế Thế giới, tiếp cận khái niệm nguy cơ tram cảm (risk of depression) theo góc độ tỉ lệ khả năng có thé mắc rối loan tram cảm. Về khách thể nghiên cứu Hé tài thực hiện khảo sát trên 362 học sinh THPT thuộc các trưởng trên địa bản thành phố Hỗ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu a.
Phương pháp nghiên cứu lí luận Với mục đích xây dựng cơ sở lí luận về hoạt động thé chất và nguy cơ tram cảm ở học sinh THPT tại thành phố Hồ Chí Minh, phương pháp nghiên cứu lí luận được tiến hành bằng cách tập hợp tải liệu liên quan, phân tích thành từng đơn vị kiến thức và khái quát thành một hệ thong lí thuyết riêng phù hợp cho dé tài. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn © Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Về hoạt động thẻ chất, sử dụng bang hỏi hoạt động thé chất đành cho thanh thiểu niên PAQ-A của nhóm tác gia Kowalski, Crocker, Donen trên mức độ hoạt động thê chất ở các thời điểm trong ngày trong thời gian bảy ngày gần nhất, Về nguy cơ trầm cam, sử dụng 14 item đánh giá nguy cơ trầm cảm trong thang DASS-42. Phương pháp thống kê toán học Phương pháp thống kê toán học được sử dụng đẻ xử lý và phân tích các số liệu thu thập được từ bảng hỏi thông qua chương trình SPSS. Các thông số thống kê nghiên cứu cần thực hiện bao gom diém trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định trung bình và hệ SỐ tương quan.
CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HOAT DONG THE CHAT VA NGUY CO TRAM CAM Ở HỌC SINH TRUNG HỌC PHO THONG 1. Tông quan các công trình nghiên cứu về hoạt động thé chat và nguy cơ tram cảm ở học sinh THPT 1. Nghiên cứu ở nước ngoài 1. Nghiên cứu ở nước ngoài về hoạt động thé chất Hoạt động thê chất là đã được nghiên cứu tir sớm vả được chia ra thành nhiều hướng nghiên cứu.
Các hướng nghiên cứu chính trong lĩnh vực này là đo lường, mô tả mức độ hoạt động thẻ chất; vai trò, tác động của hoạt động thé chất và mỗi quan hệ giữa hoạt động thẻ chất với một số yeu tố khác. Khi thực biện đo lường hoạt động thé chất ở trẻ em và thanh thiểu niên, Hoos, Gerver, Kester, và Westerterp (2003) nhận thay rang dù trẻ em có vé năng động và tích cực hoạt động hơn người lớn nhưng thực tế, vì trọng lượng cơ thẻ của trẻ em nhỏ hon nên mức tiêu hao năng lượng tông thé cũng thấp hon so với người lớn. có sự khác biệt rõ rệt giữa trẻ em và người lớn trong thời gian vận động. Người lớn được chứng minh là có thời gian ngủ trung bình là 8 giờ và trẻ em là 11 giờ, với độ tuôi trung bình là 8.
Khi trẻ lớn hơn. chúng ngủ ít hơn và đành nhiều thời gian hơn cho các hoạt động thé chat, dẫn đến mức độ hoạt động thé chat và năng lượng tiêu hao cao hơn. tông quan các nghiên cứu theo chiều dọc mô tả sự tham gia vào các cấp độ hoạt động khác nhau, được đo lường bằng các cuộc phỏng van và bang câu hỏi, cũng báo cáo sự suy giảm hoạt động thé chat theo độ tuôi, đặc biệt là sau độ tuôi 12-15.