Tổng quan nghiên cứu

Trong suốt gần ba thập kỷ chuyển đổi cơ chế kinh tế từ năm 1986 đến năm 2015, Việt Nam đã đạt mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng với tỷ lệ tổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP tăng vọt từ 10% năm 1986 lên 31% vào năm 2014, đưa đất nước ra khỏi nhóm thu nhập thấp để gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình. Đầu tư công luôn giữ vị trí nòng cốt và chiếm tỷ trọng bình quân tới 46% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội trong suốt giai đoạn 1986 – 2014, đóng vai trò nền tảng hạ tầng và động lực thúc đẩy nền kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước còn bộc lộ nhiều bất cập lớn khi hệ số ICOR của khu vực nhà nước giai đoạn 2000 – 2011 ở mức 8,3, cao vượt trội so với khu vực tư nhân là 3,9. Thực trạng này làm dấy lên câu hỏi học thuật và thực tiễn sâu sắc về vai trò thực sự cùng mức độ đóng góp của vốn đầu tư công đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng với đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế được thực hiện nhằm lượng hóa mức độ tác động của vốn đầu tư nhà nước đến tốc độ tăng trưởng GDP cả trong ngắn hạn và dài hạn. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ nền kinh tế Việt Nam với chuỗi dữ liệu thứ cấp hàng năm kéo dài 30 năm từ năm 1986 đến năm 2015. Mục tiêu trọng tâm là kiểm định bản chất tác động bổ sung hay lấn át của đầu tư công, đồng thời phân tích tương quan giữa đầu tư công với đầu tư tư nhân, đầu tư trực tiếp nước ngoài và chi tiêu công. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn cấp bách, hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách định hình lại cơ cấu phân bổ vốn ngân sách nhà nước, kiểm soát trần nợ công ở ngưỡng an toàn 65% GDP và tối ưu hóa hệ số ICOR toàn xã hội hướng về mức khuyến nghị là 3 theo tiêu chuẩn quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa trường phái kinh tế tân cổ điển và kinh tế học vĩ mô hiện đại. Đầu tiên, nghiên cứu vận dụng hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng, trong đó sản lượng đầu ra được xác định bởi vốn tư nhân, vốn công, lao động và tiến bộ công nghệ. Giả định nền tảng là vốn đầu tư công và vốn tư nhân có tính chất bổ sung tương hỗ, giúp gia tăng năng suất biên của các yếu tố đầu vào. Thứ hai, mô hình tăng trưởng nội sinh của Barro (năm 1990) được áp dụng để giải thích mối quan hệ phi tuyến hình chữ U ngược giữa quy mô đầu tư công và tăng trưởng. Theo Barro, ở quy mô vừa phải, đầu tư công đóng vai trò bổ sung và hiệu quả; nhưng khi vượt quá ngưỡng tối ưu, áp lực thuế khóa và nợ công sẽ gây ra hiện tượng lấn át đầu tư tư nhân, làm giảm sút tiết kiệm xã hội. Thứ ba, lý thuyết tổng cầu của John Maynard Keynes được sử dụng để chứng minh tác động kích cầu ngắn hạn của chi tiêu chính phủ đối với tổng sản lượng quốc gia thông qua công thức tổng cầu bằng tiêu dùng cộng đầu tư cộng chi tiêu chính phủ và xuất khẩu ròng.

Các khái niệm trọng tâm được xác lập rõ ràng trong nghiên cứu: Đầu tư công được định nghĩa theo góc độ sở hữu vốn, bao gồm toàn bộ nguồn chi từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn tự tích lũy của doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, giai đoạn 1995 – 2014 vốn ngân sách chiếm bình quân từ 44,6% đến 64,3% và vốn doanh nghiệp nhà nước chiếm 24,92% tổng vốn đầu tư công. Khái niệm hệ số ICOR được chuẩn hóa để đo lường số đồng vốn đầu tư cần thiết tạo ra 1 đồng tăng trưởng GDP, trong đó hệ số ICOR lý tưởng cho các quốc gia đang phát triển theo khuyến nghị của Ngân hàng Thế giới là 3,0.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu gồm 30 quan sát theo chuỗi thời gian hàng năm liên tục từ năm 1986 đến năm 2015 (trong đó năm 2015 sử dụng dữ liệu 9 tháng đầu năm). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu toàn bộ chuỗi thời gian toàn diện ở cấp độ kinh tế vĩ mô quốc gia. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập và tổng hợp từ các cơ quan chính thống có độ tin cậy cao gồm Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Bộ Tài chính.

Phương pháp phân tích trọng tâm là mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL (Autoregressive Distributed Lag Approach) do Pesaran và các cộng sự phát triển năm 2001, kết hợp kiểm định nghiệm đơn vị ADF (Augmented Dickey-Fuller), kiểm định đồng liên kết Bound Test, mô hình hiệu chỉnh sai số ECM, cùng các kiểm định chẩn đoán khuyết tật mô hình như kiểm định Wald, kiểm định tự tương quan Breusch-Godfrey, kiểm định phương sai sai số thay đổi White và kiểm định độ ổn định tham số CUSUM và CUSUMSQ.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ARDL xuất phát từ bốn ưu thế vượt trội: Thứ nhất, ARDL hoạt động hiệu quả và cung cấp ước lượng vững với cỡ mẫu nhỏ (30 quan sát) hơn nhiều so với kỹ thuật đồng liên kết Johansen vốn đòi hỏi cỡ mẫu lớn. Thứ hai, phương pháp này không yêu cầu tất cả các biến phải có cùng bậc tích hợp, cho phép áp dụng linh hoạt khi chuỗi dữ liệu dừng ở sai phân bậc 0 hoặc bậc 1, tức I(0) hoặc I(1). Thứ ba, ARDL cung cấp các ước lượng dài hạn không chệch và thống kê t hợp lệ ngay cả khi một số biến giải thích có tính chất nội sinh. Thứ tư, mô hình cho phép đánh giá đồng thời và tách biệt rõ ràng các hệ số co giãn tác động trong cả ngắn hạn và dài hạn của đầu tư công, đầu tư tư nhân, vốn FDI và chi tiêu công đến tăng trưởng GDP.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mô hình thực nghiệm ARDL khẳng định đầu tư công có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn. Điều này chứng minh nguồn vốn nhà nước đóng vai trò nền tảng quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực cho nền kinh tế quốc dân trong suốt tiến trình đổi mới.

Thứ hai, đầu tư của khu vực tư nhân và khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thể hiện vai trò động lực tăng trưởng vượt trội. Trong giai đoạn 2000 – 2014, vốn đầu tư của khu vực ngoài nhà nước tăng trưởng bình quân 20,4%/năm và khu vực FDI tăng 19,8%/năm, cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng 13,3%/năm của vốn đầu tư công. Tỷ trọng vốn FDI trong tổng đầu tư toàn xã hội cũng gia tăng mạnh mẽ từ mức 15% năm 1989 lên 22% vào năm 2014 sau khi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đi vào cuộc sống.

Thứ ba, hiệu quả sử dụng vốn của khu vực nhà nước còn rất thấp và kém bền vững so với các khu vực kinh tế khác. Giai đoạn 2000 – 2011 ghi nhận hệ số ICOR bình quân của khu vực nhà nước lên tới 8,3; cao gấp 2,12 lần so với khu vực tư nhân (ICOR là 3,9) và gấp 1,4 lần so với khu vực FDI (ICOR là 5,9). Hệ số ICOR toàn xã hội cũng gia tăng từ 3,3 năm 1995 lên 6,2 năm 2011, cho thấy sự suy giảm đáng báo động về chất lượng tăng trưởng.

Thứ tư, cơ cấu tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc quá lớn vào tích lũy vốn vật chất thay vì năng suất tổng nhân tố. Yếu tố số lượng vốn đầu tư đóng góp tới 76,8% vào tăng trưởng GDP, số lượng lao động đóng góp 15,6%, trong khi tiến bộ khoa học công nghệ chỉ đóng góp khiêm tốn 7,6%. Mặc dù tỷ trọng đầu tư công cho khoa học công nghệ đã tăng từ 1,32% năm 2005 lên 2,12% năm 2013, mức chi này vẫn chỉ chiếm khoảng 0,5% GDP, chưa đủ tạo ra bước đột phá về công nghệ.

Thảo luận kết quả

Kết quả ước lượng định lượng cho thấy tác động tích cực của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế của Easterly và Rebelo (1993), Bukhari và các cộng sự (2007) tại các nền kinh tế đang phát triển, đồng thời bổ sung bằng chứng thực nghiệm vững chắc cho nghiên cứu của Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong (2014) tại Việt Nam. Vốn đầu tư công đã phát huy vai trò "giá đỡ", kiến tạo mạng lưới giao thông huyết mạch, thủy lợi và hệ thống điện lưới quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng sức sản xuất của khu vực tư nhân và thu hút vốn FDI. Nhờ đó, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực khi tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 38,06% năm 1986 xuống 18,12% năm 2014, công nghiệp và dịch vụ tăng lên 38,5% và 43,38%, kéo giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị xuống 3,43% và tỷ lệ nghèo đói từ trên 60% năm 1990 xuống còn 6% vào năm 2014.

Tuy nhiên, khi xem xét chất lượng đầu tư, kết quả thực nghiệm có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường so sánh khoảng cách hệ số ICOR giữa khu vực nhà nước (8,3) và tư nhân (3,9), kết hợp bảng kiểm định dạng hàm ECM và đồ thị CUSUM ổn định tham số. Dữ liệu phản ánh sự suy giảm hiệu quả nghiêm trọng do tình trạng phân cấp đầu tư công thiếu kiểm soát sau năm 2006, khi tỷ trọng vốn địa phương quản lý vượt mức 52,3% trong giai đoạn 2002 – 2013 dẫn đến xây dựng manh mún các khu công nghiệp, cảng biển dày đặc tại miền Trung và các sân bay kém hiệu quả. Hơn nữa, việc thiếu cơ chế quy trách nhiệm đã gây ra lãng phí nghiêm trọng như dự án thua lỗ hàng nghìn tỷ đồng tại Vinashin hay công trình Bảo tàng Hà Nội với vốn đầu tư 2.300 tỷ đồng nhưng khai thác thưa thớt. Tình trạng này làm thâm hụt ngân sách thường xuyên duy trì ở mức cao từ 5% đến 9% GDP, đẩy quy mô nợ công lên 2,36 triệu tỷ đồng, tương đương 59,6% GDP vào cuối năm 2014 và áp sát trần an toàn 65% GDP.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu và nâng cao chất lượng phân bổ nguồn vốn đầu tư công. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Bộ Tài chính cần chủ trì rà soát toàn diện danh mục dự án, kiên quyết cắt giảm các công trình dàn trải, chậm tiến độ để giảm tỷ trọng đầu tư công trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ mức 40% năm 2014 xuống khoảng 30% đến 32%. Mục tiêu cụ thể là kéo giảm hệ số ICOR toàn xã hội từ mức 6,2 về dưới 4,5 trong lộ trình thực hiện từ năm 2016 đến năm 2020, tập trung nguồn vốn vào các dự án hạ tầng liên vùng trọng điểm có sức lan tỏa kinh tế lớn.

Thứ hai, hoàn thiện thể chế kiểm soát an toàn nợ công và thắt chặt kỷ luật tài khóa. Chính phủ và Quốc hội cần thực thi nghiêm ngặt các quy định của Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu và Luật Xây dựng, gắn chặt với việc thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP về ổn định kinh tế vĩ mô. Chủ thể quản lý phải kiểm soát chặt chẽ quy mô nợ công tuyệt đối không vượt ngưỡng an toàn 65% GDP và kéo giảm thâm hụt ngân sách từ mức 5% - 9% xuống dưới 4% GDP theo định hướng thường niên từ nay đến năm 2020.

Thứ ba, đẩy mạnh cổ phần hóa và siết chặt giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước. Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp phối hợp cùng các bộ quản lý ngành cần tiến hành thoái 100% vốn đầu tư ngoài ngành tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước trước năm 2018. Đồng thời, cơ quan quản lý phải xóa bỏ hoàn toàn cơ chế bao cấp tín dụng và bảo lãnh vay nợ tràn lan, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn doanh nghiệp nhà nước vốn chiếm bình quân 24,92% tổng đầu tư công giai đoạn 1995 – 2014.

Thứ tư, chuyển dịch cơ cấu đầu tư công sang nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng đề án nâng tỷ trọng vốn đầu tư công cho nghiên cứu phát triển và công nghệ từ mức 2,12% (tương đương 0,5% GDP) lên mức 1,5% đến 2,0% GDP trong giai đoạn 2016 – 2025. Giải pháp này hướng tới việc nâng mức đóng góp của nhân tố công nghệ vào tăng trưởng GDP từ 7,6% hiện nay lên trên 25%, tạo động lực then chốt đưa nền kinh tế phát triển theo chiều sâu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách vĩ mô tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước. Luận văn cung cấp bằng chứng định lượng chính xác về hệ số co giãn của đầu tư công và ngưỡng an toàn nợ công 65% GDP, hỗ trợ trực tiếp cho quá trình xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm và điều hành chính sách tài khóa bền vững.

Thứ hai, lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương và ban quản lý dự án đầu tư công. Luận văn mang lại góc nhìn thực tiễn về những bất cập trong phân cấp đầu tư sau năm 2006 (khi tỷ trọng vốn địa phương chiếm 52,3%), giúp các nhà quản lý tránh tình trạng đầu tư dàn trải vào cảng biển, khu công nghiệp và nâng cao hiệu quả thẩm định dự án theo hệ số ICOR chuẩn.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế học, Tài chính - Ngân hàng. Tài liệu này là nguồn tham khảo mẫu mực về quy trình ứng dụng mô hình ARDL kết hợp kiểm định Bound Test và mô hình ECM trên chuỗi dữ liệu vĩ mô 30 năm của Việt Nam, cung cấp hệ thống tài liệu tham khảo phong phú về lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển và mô hình Barro.

Thứ tư, các chuyên gia kinh tế tại các tổ chức tài chính quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và cộng đồng doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp FDI. Công trình nghiên cứu giúp các nhà đầu tư đánh giá chính xác tác động lan tỏa của hạ tầng công cộng đến năng suất vốn tư nhân, từ đó xây dựng chiến lược đầu tư kinh doanh đón đầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Đầu tư công tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo kết quả mô hình thực nghiệm? Kết quả kiểm định ARDL khẳng định đầu tư công có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn. Nguồn vốn nhà nước giữ vai trò nền tảng vật chất kỹ thuật, tạo động lực kéo theo sự phát triển của vốn đầu tư tư nhân và dòng vốn FDI với tốc độ tăng trưởng vốn xã hội bình quân đạt 60%/năm trong 30 năm qua.

Tại sao hệ số ICOR của khu vực nhà nước lại cao vượt trội so với khu vực tư nhân? Giai đoạn 2000 – 2011 ghi nhận hệ số ICOR khu vực nhà nước là 8,3 trong khi tư nhân là 3,9. Nguyên nhân do đầu tư công phải gánh vác các dự án hạ tầng lớn phi lợi nhuận tại vùng khó khăn. Tuy nhiên, nguyên nhân chủ quan cốt lõi vẫn là quản lý lỏng lẻo, đầu tư dàn trải ngoài ngành tại các doanh nghiệp nhà nước và tình trạng thất thoát, lãng phí lớn.

Tình trạng phân cấp quản lý đầu tư công cho địa phương đã để lại những hệ lụy gì? Kể từ sau năm 2006 khi các dự án được phân cấp mạnh cho địa phương quản lý (chiếm 52,3% vốn đầu tư công), tình trạng cạnh tranh cục bộ đã xuất hiện rõ nét. Nhiều địa phương đầu tư trùng lặp, xây dựng manh mún hệ thống cảng biển, sân bay và khu công nghiệp không theo quy hoạch vùng, làm suy giảm nghiêm trọng hiệu quả kinh tế vĩ mô.

Nợ công và thâm hụt ngân sách chịu ảnh hưởng ra sao từ sự kém hiệu quả của đầu tư công? Việc đầu tư công kém hiệu quả khiến thâm hụt ngân sách thường xuyên ở mức cao từ 5% đến 9% GDP. Để bù đắp, Chính phủ phải gia tăng vay nợ trong và ngoài nước, đẩy quy mô nợ công chạm mức 2,36 triệu tỷ đồng, tương đương 59,6% GDP vào cuối năm 2014, tiệm cận sát trần nợ công an toàn 65% GDP do Quốc hội quy định.

Phương pháp ARDL có ưu thế gì vượt trội so với phương pháp đồng liên kết Johansen truyền thống? Phương pháp ARDL của Pesaran và các cộng sự (2001) hoạt động tối ưu với cỡ mẫu nhỏ (30 quan sát), không đòi hỏi các biến phải có cùng bậc tích hợp mà chấp nhận cả chuỗi dừng ở I(0) lẫn I(1). Đồng thời, ARDL tách biệt rõ ràng tác động ngắn hạn và dài hạn, xử lý triệt để hiện tượng nội sinh giữa các biến giải thích.

Kết luận

  • Luận văn xác định và lượng hóa thành công tác động tích cực của đầu tư công, đầu tư tư nhân, vốn FDI và chi tiêu công đến tăng trưởng GDP Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn qua mô hình ARDL.
  • Công trình chỉ rõ những nút thắt thể chế lớn như hệ số ICOR khu vực nhà nước ở mức cao (8,3), nợ công tăng nhanh chạm 59,6% GDP năm 2014 và đóng góp của khoa học công nghệ vào tăng trưởng chỉ đạt 7,6%.
  • Nghiên cứu đóng góp hệ thống luận cứ khoa học thực nghiệm vững chắc, khẳng định vai trò bổ sung của vốn công đối với vốn tư nhân theo mô hình tân cổ điển và mô hình Barro tại Việt Nam.
  • Lộ trình giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn 2025 đòi hỏi khẩn trương tái cơ cấu danh mục vốn nhà nước, siết chặt trần nợ công 65% GDP và nâng mức đầu tư công nghệ lên 1,5% - 2,0% GDP.
  • Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy tiếp tục khai thác chi tiết các bảng ước lượng định lượng và mô hình ECM trong toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả vào hoạch định chính sách và nghiên cứu học thuật chuyên sâu.