Phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng 7 tiết. Chƣơng 1: Lí luận về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong lịch sử triết học Mác- Lênin Chƣơng 2: Thực trạng mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên ở Đà Nẵng Chƣơng 3: Một số phƣơng hƣớng, giải pháp để bảo vệ môi trƣờng ở Đà Nẵng hiện nay. Tổng quan tài liệu Trong quá trình phát triển đất nƣớc ta, mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đƣợc công bố trên sách, báo. Gồm các nhóm công trình nghiên cứu sau: - Nhóm công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên: Trên lập trƣờng của phép duy vật biện chứng, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã có những luận điểm quan trọng đặt nền tảng cho việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề môi trƣờng sinh thái hiện nay.
Đó là quan điểm về con ngƣời - xã hội - tự nhiên mà thực chất là mối quan hệ biện chứng giữa phát triển con ngƣời và chú ý bảo vệ môi trƣờng. Tuy không để lại những tác Luan van 5 phẩm trọn vẹn chuyên bàn về chủ đề này, song trong nhiều tác phẩm: Bản thảo kinh tế -triết học, Bộ Tƣ bản, Hệ tƣ tƣởng Đức, Biện chứng của tự nhiên và những thƣ từ ghi chép khác, C.Ăng-ghen đã phân tích và luận giải sâu sắc mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên, dự báo về tình hình môi trƣờng sống trong xã hội hiện tại, về sự biến đổi của môi trƣờng cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, từ đó đúc rút thành những nguyên lý, lý luận mang tính triết lý. Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ph.Ăngghen đã đề cập đến mối quan hệ hai chiều trong khi con ngƣời thực hiện mối quan hệ với tự nhiên. Chính sự tồn tại và phát triển của con ngƣời đã “để lại dấu ấn” trong giới tự nhiên và nó càng lớn dần theo tiến trình phát triển của xã hội loài ngƣời.
Song song với tiến trình phát triển kinh tế của xã hội loài ngƣời là tự nhiên ngày càng mất đi cái ban đầu của nó, sự đồng hoá của con ngƣời đối với tự nhiên lớn đến mức con ngƣời đã tạo cho mình một “tự nhiên thứ hai” và cuộc sống của họ ngày càng phụ thuộc vào tự nhiên thứ hai đó, tức là tự nhiên đã mất đi trạng thái ban đầu. Và để phát triển tiếp theo thì con ngƣời phải tạo ra một thế cân bằng mới.Ăngghen cũng đã khẳng định rằng con ngƣời đã tác động vào tự nhiên để khai thác các sản phẩm đáp ứng nhu cầu cho sự tồn tại, phát triển của mình. Song cũng chính trong quá trình đó có những sự tác động không có kế hoạch cũng nhƣ hạn chế về trình độ đã làm cho tự nhiên mất đi trạng thái tự nhiên của mình, tự nhiên không còn là nó, ngày càng nghèo đi và thiếu đi những khả năng đáp ứng tốt cho các nhu cầu con ngƣời nhƣ trƣớc. Chính sự mất cân bằng trong sinh thái tự nhiên đó lại đe doạ ngay chính sự tồn tại của chính con ngƣời.
Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng con ngƣời tác động vào tự nhiên không theo một kế hoạch, mà chỉ chú ý đến lợi ích của con ngƣời thì sớm muộn sẽ bị tự nhiên “trả thù” thông qua hàng loạt tác động bất lợi đến cuộc sống của con ngƣời. Bởi vì, quan hệ mang tính hệ thống của tự nhiên – xã hội – con ngƣời bị phá Luan van 6 vỡ. Tức là một trong các yếu tố để bảo đảm tính cân bằng của hệ thống không còn sẽ kéo theo các yếu tố khác bị tác động theo chiều bất lợi. Cùng mối quan ngại chung với thế giới, Việt Nam cũng đã có nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu vấn đề này từ nhiều khía cạnh khác nhau dựa trên lập trƣờng của triết học Mác.
Đề tài khoa học - công nghệ cấp bộ “Mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên trong sự phát triển xã hội”, năm 2000, do PGS. Hồ Sỹ Quý làm chủ nhiệm đã phân tích trạng thái lý luận và thực tiễn của vấn đề mối quan hệ giữa con ngƣời và tự nhiên. Trên cơ sở đó nêu ra những suy nghĩ bƣớc đầu cho triết lý về mối quan hệ giữa con ngƣời với tự nhiên trong sự phát triển của xã hội Việt Nam ngày nay. Phạm Thị Ngọc Trầm với công trình “Môi trƣờng sinh thái, vấn đề và giải pháp”, năm 1997, xác định vấn đề môi trƣờng sinh thái là một trong những vấn đề toàn cầu của thời đại, trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của vấn đề môi trƣờng sinh thái hiện nay, gợi mở những phƣơng hƣớng giải quyết vấn đề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Tác giả Lƣơng Đình Hải, trong bài viết “Một số nguyên tắc phƣơng pháp luận căn bản của việc giải quyết mối quan hệ giữa hiện đại hóa xã hội và môi trƣờng sinh thái” - Tạp chí Triết học số 6 (181), tháng 6-2006 đã đƣa ra 04 nguyên tắc phƣơng pháp luận căn bản để giải quyết hiệu quả mối quan hệ giữa hiện đại hóa xã hội và môi trƣờng sinh thái: “Nguyên tắc thay đổi nhận thức”, “Nguyên tắc về mặt lợi ích”, “Nguyên tắc tăng trƣởng kinh tế gắn liền với cải thiện và bảo vệ môi trƣờng sinh thái”, “Nguyên tắc công nghệ tiên tiến”. Cùng quan điểm hƣớng đến sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam, một số tác giả nhƣ Lƣơng Đình Hải, Nguyễn Đình Hòa, Hoàng Đình Cúc, Nguyễn Hữu Thắng. trong các bài viết của mình đã luận chứng để làm rõ rằng, phát triển xã hội bền vững và hài hòa là một xu hƣớng tất yếu, khách Luan van 7 quan của thời đại. Phát triển bền vững không thể dựa trên khuôn mẫu tƣ duy cũ, các quan niệm và giá trị cũ, nó đòi hỏi phải có tƣ duy mới, khoa học hơn.
Theo các tác giả, vấn đề cấp thiết, đặc biệt quan trọng đặt ra hiện nay là không chỉ giữ gìn, bảo vệ mà còn phải cải thiện môi trƣờng sinh thái, do vậy, nội dung của quan niệm phát triển xã hội bền vững và hài hòa phải bao gồm tăng trƣởng kinh tế, hiện đại hóa hay phát triển xã hội gắn liền với giữ gìn, bảo vệ và cải thiện môi trƣờng. Trên Tạp chí Triết học số 7, 2008 tác giả Nguyễn Đình Hòa có công trình, “Triết học Mác, nền móng cho sự xác lập quan hệ hài hòa giữa con ngƣời và tự nhiên”. Tác giả đã luận chứng nhằm làm rõ rằng, Triết học Mác là một trong những cơ sở lý luận cho sự xác lập mối quan hệ hài hòa giữa con ngƣời và tự nhiên. Khẳng định vai trò của con ngƣời và làm nổi bật sự quy định lẫn nhau của lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội, sự đồng tiến hóa giữa con ngƣời và tự nhiên.
Với bài viết trên Tạp chí Triết học số 2, 1991 “Sự thống nhất biện chứng của mối quan hệ “con ngƣời và con ngƣời” “con ngƣời và tự nhiên” trong quá trình lịch sử tự nhiên”. Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm khẳng định, con ngƣời là một thực thể sinh học xã hội, để tồn tại và phát triển con ngƣời phải gắn chặt với tự nhiên và xã hội, mối quan hệ con ngƣời - con ngƣời, con ngƣời - tự nhiên luôn biến đổi và thống nhất với nhau. Tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan với công trình, “Vai trò của lao động trong mối quan hệ giữa thích nghi và cải tạo môi trƣờng tự nhiên của con ngƣời” Tạp Chí triết học số 3, 1993 đã khẳng định, nghiên cứu vấn đề này cho phép đánh giá một cách đúng đắn vai trò của lao động trong quá trình cải tạo tự nhiên của con ngƣời. - Nhóm công trình nghiên cứu về môi trƣờng sinh thái và bảo vệ môi trƣờng sinh thái: Có tác giả, Đoàn Văn Khiêm với công trình “Một vài suy nghĩ về đạo đức sinh thái” Tạp Chí triết học số 2, 2000 tác giả cho rằng, vấn đề kinh tế xã hội - môi trƣờng sinh thái đang đặt ra rất cấp bách đối với các Luan van 8 quốc gia, đòi hỏi phải có biện pháp giải quyết, kết hợp giữa biện pháp khoa học kỹ thuật và khoa học nhân văn.
“Một số nhận thức triết học - xã hội về vấn đề môi trƣờng sinh thái” Tạp Chí Triết học số 8, 2000 của tác giả Phạm Văn Bông đã luận giải rằng, bảo vệ môi trƣờng trở thành vấn đề cấp bách, môi trƣờng sinh thái là sự tác động lẫn nhau giữa yếu tố tự nhiên, con ngƣời, xã hội. Mỗi yếu tố trong một hệ thống vô cùng phức tạp, phải kết hợp mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội, nhân văn. Tác giả Nguyễn Văn Việt trên Tạp chí Triết học số 4, 2004 với công trình, “Di truyền học và giá trị sinh thái. Về quan điểm, chủ trƣơng của Đảng và Nhà nƣớc về vấn đề bảo vệ môi trƣờng.
Chỉ thị số 36-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII), Nghị quyết số 41- NQ/TW của Bộ chính trị (khóa IX) đã thể hiện quan điểm, đƣờng lối của Đảng ta về bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Về phía Nhà nƣớc, nhiều văn bản quy phạm pháp luật cũng nhƣ những chính sách về vấn đề bảo vệ môi trƣờng bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội đã đƣợc ban hành nhƣ: Luật Bảo vệ môi trƣờng đƣợc Quốc Hội khóa IX thông qua ngày 27/12/1993 và sửa đổi, bổ sung năm 2005 là bộ luật khung của Nhà nƣớc Việt Nam về các vấn đề bảo vệ môi trƣờng; ngoài ra còn có văn bản quy định dƣới luật của bộ Khoa học công nghệ - môi trƣờng và các cơ quan quản lý nhà nƣớc khác. Đối với thành phố Đà Nẵng, chúng tôi đã tiếp cận : Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ XIX (nhiệm kỳ 2005 – 2010), lần thứ XX (nhiệm kỳ 2010 – 2015) của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng. Báo cáo quy hoạch tổng thể tài nguyên- môi trƣờng thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các công trình trƣớc đó, tác giả thực hiện nghiên cứu của mình nhằm làm rõ một phần lý luận của Triết học Mác - Lê nin về vấn đề mối quan hệ biện chứng: giữa con ngƣời với môi trƣờng sống; đặc biệt là luận chứng một cách rõ hơn vì sao vấn đề bảo vệ môi trƣờng Luan van 9 sinh thái lại trở nên quan trọng đối với sự phát triển của con ngƣời và xã hội trong giai đoạn hiện nay.