Mở đầu cuốn Lý thuyết động cơ về thúc đẩy con ngƣời (1943) A.H Maslow đã nói: “Bạn có biết điều gì ảnh hƣởng đến ƣớc muốn của con ngƣời khi anh ta nhìn thấy rất nhiều bánh mì trong khi bụng anh ta đang no căng? Oh, đơn giản thôi, ngay lập tức những nhu cầu cao khác (cao hơn) xuất hiện và những nhu cầu này, hơn là cái đói sinh lý, chúng chiếm lĩnh cảm giác. Và đến lƣợt những điều này đƣợc thỏa mãn, một lần nữa những nhu cầu mới còn cao hơn thế lại xuất hiện cứ thế nối tiếp nối”. Theo Maslow nhu cầu của con ngƣời đƣợc sắp xếp theo thứ tự gồm 5 cấp bậc khác nhau. Khi những nhu cầu cấp thấp đã đƣợc thoả mãn thì sẽ nảy sinh ra các nhu cầu mới cao hơn.
- Nhu cầu cơ bản. - Nhu cầu về an toàn. - Nhu cầu về xã hội. - Nhu cầu về đƣợc quý trọng.
- Nhu cầu đƣợc thể hiện mình. Kể từ khi ra đời năm 1940 công trình của Maslow cũng đƣợc xem xét rất kỹ lƣỡng, đặc biệt là với Edward E Lawler III cho rằng một trong những khiếm khuyết của học thuyết của Maslow là các nhóm nhu cầu mà Maslow đƣa ra tồn tại đồng thời chứ không phân định nhu cầu theo cấp bậc cao hơn mà Maslow đã đƣa ra. Ông cho rằng có nhiều cấp độ nhu cầu cùng tồn tại, chỉ khi có một nhu cầu không đƣợc đáp ứng thì nó sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn mà thôi. * Thuyết kì vọng của Victor Vroom Thuyết kỳ vọng cho rằng một cá nhân có xu hƣớng hành động theo một cách nhất định dựa trên những kỳ vọng rằng hành động đó sẽ dẫn đến một kết 13 quả cho trƣớc và dựa trên mức độ hấp dẫn của kết quả đó với cá nhân này.
Thuyết này gồm ba biến số hay mối quan hệ. - Kỳ vọng hay mối quan hệ nỗ lực - thành tích là khả năng mà một nhân viên nhận thức rằng việc bỏ ra mức nỗ lực nhất định sẽ dẫn đến một mức độ thành tích nhất định. - Phƣơng tiện hay quan hệ thành tích - phần thƣởng: là mức độ mà nhân viên tin rằng việc mình hoàn thành công việc phƣơng tiện ở một mức độ cụ thể nào đó là một phƣơng tiện giúp đạt đƣợc một kết quả mong muốn. - Chất xúc tác hay mức độ hấp dẫn của phần thƣởng: là mức độ quan trọng mà nhân viên đặt vào kết quả hay phần thƣởng tiềm năng mà họ có thể đạt đƣợc trong công việc.
Chất xúc tác ở đây có nghĩa là sự lôi cuốn của cả mục tiêu lẫn nhu cầu của nhân viên. Xúc tác x Mong đợi x Phương tiện = Sự động viên Thành quả của ba yếu tố này là sự động viên. Đây chính là nguồn sức mạnh mà nhà lãnh đạo có thể sử dụng để chèo lái tập thể hoàn thành mục tiêu đã đề ra. Các khái niệm căn bản * Nhu cầu và động cơ Nhu cầu là trạng thái tâm lý thiếu hụt, cần đƣợc đáp ứng của con ngƣời.
Nó có thể là nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần. Là con ngƣời bất cứ ai cũng tồn tại nhu cầu. Chúng có những mức độ khác nhau và kiểu khác nhau với mỗi con ngƣời khác nhau. Nhu cầu của ngƣời lao động rất phong phú và đa dạng.
Nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu đều gắn liền với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong điều kiện xã hội đó. Nhƣng dù trong nền sản xuất nào thì nhu cầu của ngƣời lao động cũng gồm hai nhu cầu chính: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. 14 Trên thực tế, mặc dù hai nhân tố này là hai lĩnh vực khác biệt song chúng lại có mối quan hệ khăng khít nhau. Tuy nhiên tại mỗi thời điểm ngƣời lao động sẽ ƣu tiên thực hiện yêu cầu mà đƣợc coi là cấp thiết nhất.
Ta cần xem xét đến yếu tố động cơ trong đó về bản chất: Nhu cầu tạo ra động cơ. Động cơ là hành động mang tính bản năng, là điều khiến chúng ta thỏa nguyện những ƣớc muốn của mình và làm việc một cách tự nguyện. Động cơ còn đƣợc hiểu là sự sẵn sàng, quyết tâm thực hiện với nỗ lực ở mức độ cao để đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức và nó phụ thuộc vào khả năng đạt đƣợc kết quả để thoả mãn đƣợc các nhu cầu cá nhân. Hầu hết các nhà quản lý đều cố gắng tác động đến các động cơ của ngƣời lao động bằng những cách khác nhau mục tiêu để biến những động cơ đó thành những động lực làm việc cho cả tổ chức.
* Động lực và tạo động lực trong tổ chức Hoạt động của con ngƣời là hoạt động có mục đích. Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi làm sao để con ngƣời hoạt động tốt hơn, để họ làm việc tích cực một cách tự nguyện. - Động lực là gì? Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con ngƣời để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt đƣợc mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó. Theo từ điển Longman động lực làm việc là sự tác động có ý thức hay vô thức khơi dậy và hƣớng hành động của con ngƣời vào việc đạt đƣợc một mục tiêu mong đợi.
Nhƣ vậy động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con ngƣời. Sự khác biệt trong hành vi của con ngƣời bắt nguồn từ giá trị và thái độ của mỗi ngƣời đối với cuộc sống xung quanh. Do vậy khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu 15 mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con ngƣời là khác nhau.
- Tạo động lực cho người lao động Động cơ là vốn của con ngƣời, thách thức công việc không nằm trong công việc mà nằm trong chính nhà quản lý, ngƣời tạo ra và điều hành môi trƣờng của mọi ngƣời. Các nhà quản lý trong tổ chức muốn xây dựng doanh nghiệp mình vững mạnh thì phải dùng mọi biện pháp kích thích ngƣời lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc. Tạo động lực làm việc là phần quan trọng trong việc quản lý hiệu suất làm việc. Nhân viên của bạn có thể hiểu đƣợc mục tiêu và tầm quan trọng của nó, đồng thời cũng phải có động lực để theo đuổi mục tiêu ấy.
Vấn đề quan trọng của động lực đó là mục tiêu. Nhà quản lý muốn ngƣời lao động trong doanh nghiệp của mình nỗ lực hết sức vì doanh nghiệp thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với ngƣời lao động đồng thời tạo mọi điều kiện cho ngƣời lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tạo động lực * Yếu tố thuộc về cá nhân ngƣời lao động - Nhu cầu của người lao động Mỗi con ngƣời ở một khoảng không gian và thời gian nhất định luôn có nhiều nhu cầu khác nhau, trong những nhu cầu đó nhu cầu nào đã chín muồi sẽ là động cơ mạnh nhất quyết định hành vi của họ.
Khi nhu cầu đó đã đƣợc thỏa mãn thì nó sẽ không còn là động cơ thúc đẩy con ngƣời làm việc nữa mà lúc này nhu cầu mới xuất hiện sẽ đóng vai trò này. Chính vì vậy nhu cầu của ngƣời lao động đƣợc xem là yếu tố căn bản ảnh hƣởng tới động lực làm việc của họ. 16 - Giá trị cá nhân Ở đây có thể hiểu là trình độ hay hình ảnh của ngƣời đó trong tổ chức hay xã hội. Tuỳ theo quan điểm giá trị khác nhau của mỗi cá nhân mà họ sẽ có những hành vi khác nhau, khi ngƣời lao động ở những vị trí khác nhau trong tổ chức thì thang bậc giá trị cá nhân của họ cũng thay đổi dù nhiều hay ít.
Bởi mỗi con ngƣời có những giá trị khác nhau, có nghĩa sự sáng tạo của họ cũng khác nhau. Làm cho nhân viên vƣợt qua giới hạn của chính họ chính là việc tận dụng các yếu tố thuộc hệ thống giá trị cá nhân. - Đặc điểm tính cách Mỗi con ngƣời là một cá thể đặc trƣng, vì vậy tính cách con ngƣời độc lập. Nó đƣợc biểu thị thành thái độ, hành vi của con ngƣời đối với bản thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đối với cả xã hội nói chung.
Các nhà quản trị khi biết đƣợc tính cách của mỗi ngƣời lao động trong doanh nghiệp mình thì nó sẽ là cơ sở để họ tìm ra cách đối xử và bố trí công việc tốt hơn. - Khả năng, năng lực của mỗi người Năng lực ở đây vừa là yếu tố di truyền vừa là kết quả của sự rèn luyện. Năng lực còn là cơ sở để tạo ra khả năng của con ngƣời. Năng lực sẽ đƣợc thực hiện và trƣởng thành chủ yếu trong thực tế.
Trong các loại năng lực của con ngƣời thì quan trọng nhất là năng lực tổ chức và năng lực chuyên môn. Một nhà quản lý đánh giá đúng năng lực nhân viên là cơ sở để nhà quản lý sử dụng tốt nhất nhân viên trong doanh nghiệp. Một câu mà John.Kenedy đã phát biểu: “Tất cả chúng ta không bình đẳng về tài năng, nhƣng trong một tổ chức chúng ta nên bình đẳng về cơ hội phát triển tài năng và sự công nhận công bằng năng lực”. * Yếu tố bên ngoài - Tính hấp dẫn của công việc Tính hấp dẫn của công việc sẽ tạo nên sự thoả mãn đối với công việc của ngƣời lao động.
Sự thoả mãn đƣợc thể hiện ở thái độ của ngƣời lao động đó 17 trong quá trình làm việc. Tính hấp dẫn của công việc là một khái niệm khá rộng, đối với ngƣời lao động nó không chỉ là một công việc nhƣ mong muốn, mà nó còn là sự kiểm soát đối với công việc, sự ủng hộ của lãnh đạo trong quá trình làm việc, những phần thƣởng, trợ cấp đối với công việc… - Khả năng thăng tiến Thăng tiến là sự mô tả cả quá trình một ngƣời lao động đƣợc chuyển lên một vị trí cao hơn trong doanh nghiệp, đƣợc đi kèm với việc lợi ích vật chất của ngƣời lao động sẽ đƣợc tăng lên đồng thời cái tôi của họ cũng đƣợc thăng hoa. Tận dụng đƣơc yếu tố này, chính sách tạo động lực sẽ có hiệu quả hơn.