Chương 1: Trình bày tổng quan lý thuyết về đầu tư công và tăng trưởng kinh tế, làm rõ khái niệm và quan điểm chung về đầu tư công, cơ sở lý thuyết về đầu tư công cũng như mối quan hệ tác động của đầu tư công lên tăng trưởng kinh tế. Ghi nhận các nghiên cứu trước đó ở trong và ngoài nước về mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế. Chương 2: Phân tích thực trạng đầu tư công và tăng trưởng kinh tế cũng như khái quát tình hình kinh tế ở Việt Nam và so sánh với một số nước ASEAN, qua đó đánh giá hiệu quả đầu tư công và nêu một số vấn đề tồn tại của đầu tư công hiện nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 3: Trình bày phương pháp luận và mô hình nghiên cứu trong đó mô tả chi tiết về cách thực hiện mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) và mô hình kiểm định tính nhân quả Granger.
Chương 4: Mô tả dữ liệu nghiên cứu và kết quả thực nghiệm trong đó chỉ rõ cách thức lấy số liệu, xử lý số liệu, kết quả đạt được thông qua phân tích hồi qui và bàn luận cho phần gợi ý chính sách công. Phần Kết luận, xác định lại những phát hiện của đề tài nghiên cứu và các đề xuất được đưa ra cho các chính sách của Chính phủ, đặc biệt là Chính phủ Việt Nam liên quan đến đầu tư công trong tương lai. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 CHƢƠNG I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƢ CÔNG VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.1 Cơ sở lý thuyết về đầu tư công 1.1 Khái niệm và quan điểm chung về đầu tư công ầu tư công (thuần) được hiểu như là phần chi tiêu công được thêm vào lượng vốn vật chất để tạo ra các dịch vụ xã hội, chẳng hạn xây dựng đường xá, cầu cảng, trường học, bệnh viện v.v… Nguồn vốn đầu tư công thường bao gồm ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ hoặc viện trợ phát triển của nước ngoài. Tùy theo quan niệm của từng quốc gia mà đầu tư công có thể bao gồm các dự án cho các mục đích kinh doanh (qua khu vực DNNN) hoặc các dự án chỉ thuần túy mục đích công ích.
Ở Việt Nam, đầu tư công được hiểu theo nghĩa hẹp. ầu tư công là đầu tư từ nguồn vốn của Nhà nước vào các lĩnh vực phục vụ lợi ích chung, không nhằm mục đích kinh doanh (Nguyễn Xuân Tự, 2010). Các nghiên cứu gần đây cho thấy đầu tư công ảnh hưởng tới đầu tư của khu vực tư nhân theo nhiều kênh khác nhau (Blejer và Khan, 1984; Aschauer, 1989). ầu tư công thúc đẩy đầu tư tư nhân nếu nó có tính bổ trợ cho đầu tư tư nhân.
iều này chỉ xảy ra nếu đầu tư công tạo ra được các hiệu ứng lan tỏa (spillover effect) đối với nền kinh tế. Doanh nghiệp tư nhân sẽ thu được lợi nhuận cao hơn khi có đầu tư công, do vậy thúc đẩy đầu tư tư nhân. Tuy nhiên, đầu tư công có thể dẫn đến hiện tượng chèn ép đầu tư tư nhân nếu như nó cạnh tranh nguồn lực với đầu tư tư nhân. Khả năng chèn ép đầu tư tư nhân sẽ lớn nếu như đầu tư công được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhà nước hoặc thông qua hình thức doanh nghiệp nhà nước.
Dịch vụ cung cấp từ khu vực doanh nghiệp nhà nước sẽ cạnh tranh với khu vực tư nhân, làm giảm động cơ tham gia đầu tư của khu vực tư nhân. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Như vậy, về cơ bản, các quốc gia đều hướng đến quản lý đầu tư công để hỗ trợ tăng năng suất cho khu vực tư nhân và toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, nó có thể dùng để bù đắp thất bại của thị trường trong một số thị trường đặc biệt.2 Cơ sở lý thuyết về đầu tư công Vài nét về lý thuyết quan hệ người chủ - người thừa hành (principal - agent theory) ầu tư công là một điển hình của quan hệ người chủ - người thừa hành. Người dân và người đóng thuế trao tiền và ủy thác cho chính quyền các cấp trung ương và/hoặc địa phương (dưới hình thức các khoản thu ngân sách từ thuế và khai thác tài nguyên) để thực hiện các dự án cung cấp dịch vụ công cộng.
Chính quyền cấp trung ương sau đó lại có thể ủy thác cho chính quyền cấp địa phương để thực hiện các dự án cung cấp dịch vụ công cộng. Bởi các cơ quan chính quyền không thể trực tiếp thực hiện việc này nên đến lượt các cơ quan này lại ủy thác cho các nhà thầu dự án để xây dựng công trình, sau khi công trình hoàn thành, nó sẽ được bàn giao cho một đơn vị khác của chính quyền quản lý. Bản chất của quan hệ người chủ - người thừa hành là bất đối xứng thông tin. Người chủ muốn người thừa hành nỗ lực thực hiện hết mình công việc được giao.
Nhưng vì người thừa hành có thông tin riêng về chi phí sản xuất mà người chủ không biết nên người thừa hành thường có xu hướng “bịp” người chủ. ể giải quyết vấn đề này, các lý thuyết gia chỉ ra rằng người chủ sẽ thực hiện các biện pháp khác nhau, phụ thuộc vào từng tình huống hay từng dự án. - Trường hợp có thể giám sát: tăng cường minh bạch thông tin thông qua các hình thức khuyến khích để giảm thông tin riêng. - Trong trường hợp không thể giám sát tốt nhưng có thể đưa ra một hợp đồng rõ ràng về trách nhiệm của mỗi bên: người chủ sẽ khoán cho người thừa hành một hợp đồng với chi phí cố định (Holmstrom, 1982; Baron và Myerson, 1982).
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Trong trường hợp không thể hình thành được hợp đồng rõ ràng: người chủ sẽ đề nghị người thừa hành hợp đồng hợp tác dạng đồng chủ sở hữu để tăng trách nhiệm và chia sẻ rủi ro (Grossman và Hart, 1986).1 Các quan hệ ngƣời chủ - ngƣời thừa hành trong đầu tƣ công Mối quan hệ người chủ - người thừa hành trên rất hữu ích để bàn luận về cơ chế đầu tư công. Về mặt lý thuyết cơ chế đầu tư công bao gồm hai nhóm cơ chế liên quan đến hai giai đoạn của đầu tư công. Nhóm thứ nhất là cơ chế xác định cách thức phân bổ các nguồn vốn của nhà nước sao cho hiệu quả. Nhóm thứ hai là cơ chế thực hiện các dự án đầu tư công.
Bên cạnh cơ chế ra quyết định và cơ chế thực hiện tại hai giai đoạn là các cơ chế giám sát để đảm bảo rằng việc ra quyết định và thực hiện các dự án đầu tư công đạt được mục tiêu đề ra với mức thất thoát là thấp nhất. * Cơ chế phân bổ nguồn vốn: Trên bình diện lý thuyết người chủ - người thừa hành, cơ chế phân bổ nguồn vốn phản ánh mối quan hệ giữa người dân ủy thác cho chính quyền các cấp thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 việc xác định các dự án cung cấp dịch vụ công cộng cho người dân. Trong mối quan hệ này, chính quyền các cấp có lợi thế hoàn toàn về thông tin. Giữa người dân và chính quyền cũng không thể hình thành được hợp đồng rõ ràng.
Vì vậy, cách thức để giải quyết mối quan hệ này là tập trung vào việc giảm thông tin riêng cũng như tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình ra quyết định. Cách giải quyết tổng quát vấn đề này là phân quyền. ây là xu hướng chung trên thế giới kể từ thập niên 1980. Các dự án đầu tư công có qui mô vùng hoặc quốc gia thì do chính quyền trung ương quyết định trong khi các dự án đầu tư công có qui mô địa phương thì do địa phương quyết định.
Mục đích của việc phân quyền là tăng hiệu quả phân bổ đầu tư dựa trên nguồn tri thức mà các cấp có thể biết tốt hơn cũng như được nhiều người dân biết đến hơn. Trung ương hiểu biết rõ về tổng thể nền kinh tế, mối liên kết giữa các vùng miền, xây dựng kế hoạch về cơ sở hạ tầng cũng như các vùng kinh tế để tăng hiệu ứng hợp trội (synergy effects). Dự án có qui mô quốc gia cũng nhận được sự quan tâm của nhiều người dân. Mức độ phản biện những lý lẽ phân bổ của chính quyền trung ương sẽ đa dạng hơn.
Trong khi đó người dân địa phương được coi như là đối tượng hiểu nhu cầu ở địa phương mình nhất, họ cũng hiểu biết rõ các nguồn lực đặc thù của địa phương. Khi được phân quyền, họ sẽ có khả năng đưa ra quyết định đúng đắn hơn ngay cả khi là không đúng từ quan điểm của chính quyền trung ương (Bird và Vaillancourt, 1998). Ngoài ra để tăng cường sự tham gia đóng góp của người dân địa phương vào kiểm soát rủi ro, kinh nghiệm thế giới cho thấy việc phân quyền đầu tư công cần phải tương ứng với nguồn thu của chính quyền địa phương. Nếu địa phương đóng góp ít hoặc không có đóng góp cho các dự án đầu tư thuộc địa phương mình thì sẽ thiếu trách nhiệm trong việc kiểm soát rủi ro.
Vì vậy, việc phân quyền đầu tư công cho địa phương nên cân bằng với khả năng huy động ngân sách của địa phương. * Cơ chế thực hiện đầu tư công: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Một khi dự án đầu tư được quyết định, tùy theo tính chất của dự án, chính quyền sẽ quyết định thực hiện dự án theo hình thức sở hữu nào. - Hình thức sở hữu thứ nhất là nhà nước nắm 100% vốn chủ sở hữu dự án và thuê các doanh nghiệp thực hiện. Thông thường đây là những dự án ít phức tạp, có thời gian thực hiện ngắn; hoặc đó là các dự án không tạo ra dịch vụ có tính thương mại.
Trong trường hợp này, chính quyền và doanh nghiệp có thể đưa ra được một hợp đồng tương đối đầy đủ về trách nhiệm gánh chịu rủi ro của các bên liên quan đến dự án. Chính quyền sẽ chọn nhà thầu có khả năng thực hiện dự án với chi phí đầu tư cố định thấp nhất. - Hình thức sở hữu thứ hai là chia sẻ sở hữu dự án với khu vực tư nhân. ây là các loại dự án có thời gian kéo dài và tương đối phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện.
Tuy nhiên, lợi ích của dự án lại có tính thương mại có khả năng hấp dẫn tư nhân tham gia.