CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY – CORPORATE GOVERNANCE 1.1 Giới thiệu về “Corporate governance – Quản trị công ty” 1.1 Sự ra đời của Quản trị công ty: Thời gian gần đây, ngày càng nhiều công ty, tổ chức và cá nhân quan tâm đến vấn đề “Quản trị công ty – Corporate Governance” vì tầm quan trọng rõ rệt của chủ đề này đối với sức khỏe của công ty và sự lành mạnh của xã hội nói chung. Chủ đề Quản trị công ty (QTCT) ra đời từ vấn đề tách biệt giữa quản lý và sở hữu công ty. Cho dù là công ty niêm yết hay công ty cổ phần bình thường, thì QTCT cũng hướng đến bảo vệ quyền lợi cổ đông và những người liên quan. Đối với các công ty cổ phần, số lượng cổ đông nhỏ cũng khá nhiều, tuy nhiên tiếng nói của họ dường như rất hạn chế, vì vậy cần có những cơ chế minh bạch để bảo vệ quyền lợi của nhóm này.
Xa hơn, QTCT định hướng công ty tạo ra giá trị cho cổ đông và cho toàn xã hội. Thuật ngữ QTCT tương đối mới ở Việt Nam. Tuy nhiên nó đã xuất hiện từ rất lâu trên thế giới, thể hiện qua việc ban hành các luật công ty liên quan đến quyền của hội đồng quản trị vào khoảng thế kỷ 19 của các nước. Tại Đức, Luật Công ty được ban hành vào năm 1870 đã thể hiện sự quan tâm đến vấn đề QTCT thông qua việc qui định thành lập hội đồng quản trị hai tầng mà đến nay vẫn còn sử dụng để bảo vệ những cổ đông nhỏ và các đối tượng khác: i) Ban giám sát phi điều hành thường bao gồm đại diện người lao động và ii) Ban điều hành.
Tại Mỹ, vào thế kỷ 19 các bộ luật Công ty Nhà nước đã nâng cao quyền cho hội đồng quản trị thực hiện công việc của mình mà không cần có sự đồng thuận của các cổ đông. Điều này góp phần vào sự sụp đổ của phố Wall vào năm 1929 khiến các học giả pháp lý như Adolf Augustus Berle, Edwin Dodd, và Gardiner C. Means đã suy nghĩ về vai trò thay đổi của các công ty hiện đại trong xã hội. Năm mươi năm sau đó, bài viết "Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và kiểm soát" của Eugene Fama và 123doc 2 Michael Jensen in trên Tạp chí Luật và Kinh tế vào năm 1983 thiết lập vững chắc lý thuyết đại diện như là một cách hiểu biết về QTCT.
Sự thống trị của lý thuyết đại diện đã được nhấn mạnh trong một bài viết “Lý thuyết đại diện: đánh giá và xem xét” năm 1989 bởi Kathleen Eisenhardt. Trong ba thập kỷ qua, nhiệm vụ của Giám đốc công ty ở Mỹ đã mở rộng vượt ra ngoài trách nhiệm pháp lý truyền thống của nhiệm vụ trung thành với công ty và các cổ đông. Sự ra đời của ngày càng nhiều các tập đoàn lớn và hoạt động đầu tư trên quy mô toàn cầu dẫn đến thực tế người sở hữu thường không phải là người trực tiếp điều hành. Điều này tạo ra khoảng cách giữa những người sở hữu thực và những người được thuê để đứng ra điều hành - những Tổng Giám đốc hay Giám đốc Điều hành.
Quyền lực của người được thuê làm chủ ngày càng lớn. Xung đột lợi ích phát sinh khi người sở hữu cảm thấy người họ đang thuê không làm vì lợi ích của họ. Trong nửa đầu của những năm 1990, vấn đề QTCT ở Mỹ nhận được sự chú ý đáng kể của báo chí do làn sóng sa thải Giám đốc điều hành (ví dụ như: IBM, Kodak, Honeywell) bởi các hội đồng quản trị. Trong đầu những năm 2000, các vụ phá sản lớn của Enron và Worldcom, cũng như vụ bê bối của công ty khác như Adelphia Communications, AOL, Arthur Andersen, Global Crossing, Tyco, càng làm cho vấn đề QTCT được quan tâm nhiều hơn.
Thiệt hại hàng tỷ đô la của các nhà đầu tư đã chứng minh rằng thiết lập hiện tại của QTCT: kiểm tra và cân đối các hoạt động nội bộ không thể bảo vệ cổ đông từ những ưu tiên đặt không đúng chỗ của ban giám đốc. Chính vì vậy, năm 2002 Đạo luật Sarbanes-Oxley được thông qua nhằm bảo vệ nhà đầu tư. QTCT được đặt trên cơ cở của sự tách biệt giữa quản lý và sở hữu công ty. Công ty là của chủ sở hữu (nhà đầu tư, cổ đông…), nhưng để công ty tồn tại và phát triển phải có sự dẫn dắt của Hội đồng quản trị, sự điều hành của Ban giám đốc và sự đóng góp của người lao động, những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và quyền lợi.
Điều này dẫn đến cần phải có một cơ chế để nhà đầu tư, cổ đông có thể kiểm soát việc điều hành công ty nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. QTCT tập trung xử lý các vấn đề thường phát sinh trong mối quan hệ ủy quyền trong công ty, ngăn ngừa và hạn chế những người quản lý lạm dụng quyền và nhiệm 123doc 3 vụ được giao sử dụng tài sản và cơ hội kinh doanh của công ty phục vụ cho lợi ích riêng của bản thân hoặc của người khác, hoặc làm thất thoát nguồn lực do công ty kiểm soát.2 Vấn đề về định nghĩa: 1.1 Các nguyên tắc QTCT của OCED: Bản thân khái niệm QTCT (Corporate Governance – CG) lại được định nghĩa mờ nhạt và dễ nhầm lẫn, vì CG bao trùm lên một số lớn các hiện tượng kinh tế khác biệt. Kết cục là nhiều người khác nhau đã đi tới nhiều định nghĩa khác nhau về CG. Mỗi người cố gắng đưa ra một loại định nghĩa phản ánh mối quan tâm riêng của cá nhân về tác động và ảnh hưởng của CG trong lĩnh vực của mình.
Một số định nghĩa tham khảo về CG trên thế giới: Metric và Ishii (2000) định nghĩa QTCT từ quan điểm của nhà đầu tư là "lời hứa hoàn trả một khoản tiền lời tương ứng dựa trên vốn đầu tư và cam kết vận hành công ty một cách hiệu quả". Ủy ban Cadbury (1992) định nghĩa QTCT là "hệ thống mà theo đó công ty được chỉ đạo và kiểm soát". "CG có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là quan hệ của một công ty với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của công ty với xã hội. "CG nhắm tới mục tiêu thúc đẩy sự công bằng công ty, tính minh bạch và năng lực chịu trách nhiệm" J.
Wolfensohn, Cựu Chủ tịch World Bank (6/1999). "CG là hệ thống người ta xây dựng để điều khiển và kiểm soát các công ty. Cấu trúc CG chỉ ra cách thức phân phối quyền và trách nhiệm trong số những thành phần khác nhau có liên quan tới công ty như Hội đồng quản trị, Giám đốc, cổ đông, và những chủ thể khác có liên quan. CG cũng giải thích rõ qui tắc và thủ tục để ra các quyết định liên quan tới vận hành công ty.
Bằng cách này, CG cũng đưa ra cơ chế thông qua đó người ta thiết lập các mục tiêu công ty, và cả phương tiện để đạt được mục tiêu hay giám sát hiệu quả công việc", OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) - 4/1999 123doc 4 Trong tiếng Việt, cũng do nguyên nhân của bản thân sự định nghĩa mờ nhạt từ gốc gác, CG cũng rất khó có được một định nghĩa chuẩn xác. Chúng ta có thể tạm gọi nó là Hệ thống quản trị và kiểm soát xung đột, hay thay chữ hệ thống bằng "cơ chế". Có lẽ đó là cách hiểu dễ hình dung nhất trong tiếng Việt về Corporate Governance. Từ những định nghĩa này cho thấy QTCT có thể hiểu một cách tổng quan là một hệ thống kiểm soát nội bộ và thủ tục mà theo đó công ty được định hướng và kiểm soát.
Nó cung cấp một cơ cấu mà trong đó qui định quyền, vai trò và trách nhiệm của các nhóm khác nhau trong một tổ chức: ban giám đốc, các cổ đông chi phối và nhóm các cổ đông thiểu số hoặc không chi phối. Hệ thống và cơ cấu này đặc biệt quan trọng cho những công ty có số lượng lớn các cổ đông thiểu số. QTCT bao gồm mối quan hệ giữa những bên có quyền lợi liên quan đến công ty và công ty. Năm 1999, các nước trong tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đưa ra các nguyên tắc về QTCT và từ đó trở thành tiêu chuẩn quốc tế cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các công ty và các bên liên quan khác: 1.
Đảm bảo cơ sở cho một cơ chế QTCT có hiệu quả: Cơ chế QTCT phải thúc đẩy các thị trường minh bạch và hiệu quả, phù hợp với pháp luật và xác định rõ sự phân công trách nhiệm của các nhà giám sát, quản lý và thực thi pháp luật. Quyền của cổ đông và các tổ chức sở hữu chủ yếu: Cơ chế QTCT cần bảo vệ và thúc đẩy việc thực hiện các quyền của cổ đông. Đối xử bình đẳng với cổ đông: Cơ chế QTCT cần đảm bảo đối xử công bằng với tất cả các cổ đông, các cổ đông thiểu số và cổ đông là người nước ngoài. Tất cả các cổ đông phải có cơ hội được bồi thường trong trường hợp quyền của họ bị vi phạm.
Vai trò của cổ đông trong QTCT: Cơ chế QTCT cần công nhận các quyền của cổ đông theo quy định pháp luật hoặc thông qua các thỏa thuận chung và khuyến khích sự hợp tác tích cực giữa công ty và cổ đông trong việc tạo ra của cải, việc làm và sự bền vững của các công ty có tình hình tài chính tốt. Công khai và minh bạch: Cơ chế QTCT cần đảm bảo việc thông tin kịp thời và chính xác tất cả các vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh, quyền sở hữu và QTCT. Trách nhiệm của hội đồng quản trị: Cơ chế QTCT cần đảm bảo định hướng chiến lược cho công ty, giám sát hiệu quả của hội đồng quản trị đối với ban giám đốc và trách nhiệm của hội đồng quản trị đối với công ty và cổ đông. QTCT là sự sắp xếp việc kiểm tra, cân đối và những ưu đãi mà một công ty cần có để tối thiểu hóa và chế ngự những xung đột lợi ích giữa các cổ đông trong và ngoài công ty.
Mục đích của nó là để ngăn chặn việc chiếm đoạt những lợi ích của một nhóm đối với một hoặc nhiều nhóm khác. Tóm lại, hệ thống QTCT tốt đảm bảo rằng: Các thành viên của hội đồng quản trị hành động để đem lợi lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Công ty hoạt động theo luật pháp và đạo đức trong các giao dịch với các bên có liên quan và đại diện của họ.