CHƯƠNG 1 TổNG QUAN TÀI LIệU Về NGHÈO ĐÓI VÀ MÔI TRƯờNG 1. Các khái niệm chung 1. Môi trường Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”. Một số thuật ngữ quan trọng được định nghĩa trong luật như sau: Thành phần môi trường là các yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác.
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học. Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần của môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật. Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật. Nghèo đói Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định.
Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tuỳ theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia. Tuy nhiên cái nghèo không chỉ đơn giản là mức thu nhập thấp mà còn thiếu thốn trong việc tiếp cận dịch vụ như giáo dục, văn hoá, y tế; không chỉ thiếu tiền mặt, thiếu những điều kiện tốt hơn cho cuộc sống mà người nghèo còn trong tình trạng đe dọa bị mất những phẩm chất quý giá đó là lòng tin và lòng tự trọng.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do vậy, nghèo đói có thể hiểu một cách chung nhất không đơn thuần chỉ là sự túng thiếu về mặt vật chất mà còn liên quan đến những rủi ro, tính dễ bị tổn thương, vấn đề xã hội và các cơ hội tiếp cận với sự phát triển1. Tổ chức Phát triển Quốc tế của Úc (AusAID) phân định nghèo đói theo nghĩa khó đáp ứng những nhu cầu cơ bản, hạn chế sự tham gia với tư cách thực hiện quyền công dân tự do xuất phát từ thiếu hụt năng lực ứng phó với các cú sốc môi trường, khí hậu2. Nghèo đói hiện đang được tiến hành đánh giá tại Việt Nam dựa vào khung sinh kế bền vững. Tiêu chí về nghèo đói ở Việt Nam hiện nay dựa trên Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho từng giai đoạn.
Trong nghiên cứu này, tiêu chí về nghèo đói được căn cứ theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 và Quyết định số 09/2011/QĐ-TTG về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015, theo đó: Bảng 1. Các tiêu chí đánh giá hộ nghèo theo từng giai đoạn Đơn vị tính: VNĐ/Người/Tháng Hộ nghèo Hộ cận nghèo Theo quyết định số Khu vực Khu vực Khu vực nông Khu vực thành nông thôn thành thị thôn thị 170/2005/QĐ-TTg < 200. Nghèo đói do môi trường Trước đây, khi nhắc đến nghèo đói người ta thường đánh đồng với thu nhập thấp dù theo tiêu chuẩn quốc tế hay tiêu chuẩn riêng của Việt Nam. Các chính sách xã hội về xóa đói giảm nghèo vẫn là chính sách chung cho tất cả người nghèo.
Tuy 1 World Bank, 2006, Poverty Environment Nexus - Sustainable approaches to poverty reduction in Cambodia, Lao PDR and Vietnam. Draft Conference Edition. 2 AusAID 2001, Reducing poverty - the central integrating factor of Australia’s Aid Program. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, trong nhóm người nghèo đói, có một bộ phận không nhỏ là nghèo đói do môi trường xuống cấp.
Trong một nghiên cứu được thực hiện năm 2008, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã làm sáng tỏ khái niệm nghèo do môi trường. ADB chỉ rõ có 6 sinh cảnh (vùng) nghèo do môi trường và vấn đề nghèo do môi trường phải mang tính địa lý, ADB gọi cái nghèo trong những sinh cảnh (vùng) mà nguyên nhân chính là môi trường suy thoái là nghèo do môi trường và người nghèo sống trong những sinh cảnh đó được gọi là người nghèo do môi trường3. 6 vùng sinh cảnh đó là: - Vùng khô hạn (ví dụ Ninh Thuận, bắc Bình Thuận); - Một số vùng miền núi, nhất là những vùng sâu, vùng xa có vốn rừng bị phá hủy nhiều; - Một số vùng ven biển mà nguồn lợi thủy sản ven bờ (khoảng cách 5-10 km tính từ bờ) bị suy kiệt, những vùng bờ đang bị xói lở mạnh, thường bị bão lụt, tập trung chủ yếu ở vùng ven biển các tỉnh Nam trung Bộ); - Vùng đất thấp hay bị lụt (ĐB sông Cửu Long, ĐB sông Hồng và nhiều vùng cửa sông miền Trung); - Vùng ven các khu công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. - Khu ổ chuột đô thị (ADB đề xuất chỉ tính cho các đô thị điển hình với dân số từ 100.000 người trở lên).
Thủ phạm chính của nhóm nghèo này là do môi trường ô nhiễm, thiên tai, sự cố và xuống cấp. Nguồn sinh kế chủ yếu do thiên nhiên cung cấp hoặc bảo đảm ngày càng giảm sút. Tuy nhiên họ lại bị đánh đồng với những người nghèo vì các nguyên nhân khác và cùng được thụ hưởng chung chính sách xóa đói giảm nghèo. Điều này khiến cho nhiều chính sách xóa đói giảm nghèo của nhà nước không phát huy được hiệu quả trong những khu vực môi trường bị suy thoái do các nguyên nhân tự nhiên hoặc nhân tạo.
The Environments of Poverty- A Geographical Approach to Poverty- Reduction in Asia and the Pacific. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mối liên kết giữa nghèo đói và môi trường Hiện trên thế giới tồn tại hai luồng quan điểm khác nhau về mối liên kết giữa nghèo đói và môi trường đó là (i) nghèo đói là nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái môi trường và (ii) nghèo đói không hoàn toàn là nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường. Tuy nhiên dễ dàng nhận thấy nếu nghèo đói được cải thiện sẽ có tác động tích cực đến chất lượng môi trường và ngược lại.
Theo Sổ tay hướng dẫn lồng ghép đói nghèo-môi trường vào kế hoạch phát triển của Sáng kiến Đói nghèo Môi trường (PEI), mối liên kết giữa nghèo đói và môi trường được thể hiện ở ba điểm chính: Thứ nhất, người nghèo thường sống ở các khu vực miền núi, nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Họ sống chủ yếu nhờ vào khai thác tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất, thuỷ sản… một cách bừa bãi và không có biện pháp nào được áp dụng để bảo vệ hoặc tái tạo lại nguồn tài nguyên. Môi trường, các hệ sinh thái là nguồn cung cấp thực phẩm, nước uống, nhiên liệu cho đời sống con người. Tuy nhiên do việc khai thác không bền vững dẫn đến tài nguyên ngày càng cạn kiệt, người nghèo càng bị nghèo thêm.
Thứ hai, người nghèo thường dễ bị tổn thương do các thiên tai, thảm hoạ thiên nhiên và biến đổi khí hậu, các sự cố về môi trường. Họ không có các trang thiết bị cần thiết để chống chọi lại với các yếu tố gây tổn thương. Ví dụ như nhà ở tạm bợ, dễ bị gió và mưa lũ phá hủy; sống ở vùng nguy hiểm, cô lập… Thứ ba, người nghèo do sự yếm thế của mình, thường phải làm việc, sinh sống trong những môi trường độc hại với mức độ ô nhiễm cao, ví dụ như trong các khu ổ chuột với nguồn nước, không khí bị ô nhiễm4. Nhìn chung, việc tiếp cận tài nguyên thiên nhiên và một môi trường không bị ô nhiễm là điều kiện tiên quyết cho chiến lược xóa đói giảm nghèo dài hạn, trong khi đó xóa đói giảm nghèo là rất cần thiết để quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường.
Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài này, mối liên kết giữa 4 PEI, UNDP 2009. Handbook: Integration of Poverty and Environment Linkages into Development Plans. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghèo đói và môi trường được đánh giá thông qua phân tích các tác động của nghèo đói tới môi trường và ngược lại; đồng thời nghiên cứu các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói do môi trường cho khu vực nghiên cứu trên phương diện quản lý. Sinh kế và sinh kế bền vững Sinh kế là cách thức mà người dân dựa vào đó để tạo ra thu nhập thông qua 5 nguồn vốn hay còn gọi là tài sản khác nhau (nguồn vốn tự nhiên, vật chất, con người, xã hội và tài chính).
Dựa trên năm nguồn vốn này, người dân theo đuổi và phát triển các chiến lược sinh kế khác nhau với mong muốn tạo được thu nhập cao, sống khỏe mạnh và chất lượng cuộc sống tốt. Các chiến lược này luôn khác nhau đối với nam và nữ; chúng dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc dựa vào thị trường. Các chiến lược sinh kế cũng liên quan đến cả vấn đề di cư. Ngoài ra sinh kế còn chịu tác động của một số yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát trung gian giữa con người và cộng đồng chẳng hạn như thiên tai, nước biển dâng, biến đổi khí hậu, thay đổi thời tiết trong năm ảnh hưởng đến mùa vụ sản xuất, biến động về giá cả thị trường do khủng hoảng kinh tế, dịch bệnh… Nguồn vốn sinh kế càng phong phú, càng dồi dào thì người dân càng dễ tiếp cận với những sinh kế tốt hơn, bền vững hơn, và vì vậy, dễ trở nên giàu có hơn.
Đối với người nghèo, do không được cung cấp tài sản sinh kế và không có khả năng cải thiện tài sản, năm nguồn vốn sinh kế của họ nói chung bị giới hạn. Đặc biệt, người nghèo thường không được tiếp cận với các nguồn vốn vật chất và tài chính sở hữu tư nhân. Họ phụ thuộc vào sở hữu Nhà nước hoặc các nguồn tài nguyên chung. Chính vì vậy họ càng dễ bị tổn thương từ những rủi ro và càng khó thoát nghèo.
Việc giảm nghèo đói do môi trường chính là giúp cho người nghèo có quyền và tiếp nhận kịp thời những nguồn vốn sinh kế đã nêu trên.