CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm trì hoãn và trì hoãn trong học tập Trì hoãn là một trong những hiện tượng phổ biến ở con người. Tuy nhiên, cho đến nay, cách hiểu về trì hoãn trong các nghiên cứu tâm lý học vẫn chưa có được sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu (Ferrari, Johnson, & McCown, 1995; Klingsieck, 2013a; Schraw, Wadkins, & Olafson, 2007). Trong khi một số nhà nghiên cứu cho rằng sự đa dạng trong cách hiểu về trì hoãn sẽ góp phần làm rõ hiện tượng này (Steel, 2007) thì nhiều nhà nghiên cứu khác lại đánh giá sự thiếu thống nhất sẽ gây ra những hạn chế trong việc nghiên cứu, tìm hiểu và can thiệp đối với hiện tượng trì hoãn (Ferrari và c., 1995; Klingsieck, 2013a; Schraw và c.
Khi không có một khái niệm thống nhất, kết quả từ các nghiên cứu về trì hoãn khó có thể được đem ra so sánh và tổng hợp nhằm hình thành các lý thuyết nền tảng, các công cụ đo lường có hiệu lực và những cách can thiệp có hiệu quả (Klingsieck, 2013a). Do đó, trong khi sự khác biệt trong cách hiểu về trì hoãn giữa các nhà nghiên cứu có thể bổ sung cho nhau để làm rõ hiện tượng này (Steel, 2007) thì nghiên cứu về trì hoãn vẫn cần phải hướng tới một khái niệm chung, được chấp nhận rộng rãi (Ferrari và c., 1995; Klingsieck, 2013a) Một trong những khái niệm về trì hoãn thường được trích dẫn là khái niệm của nhà nghiên cứu Steel (2007). Theo đó, trì hoãn là tự chủ tạm hoãn một hoạt động đã được dự định mặc dù biết rằng việc tạm hoãn đó sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực. Klingsieck (2013a) sau khi phân tích và đánh giá các khái niệm trì hoãn phổ biến của nhiều nhà nghiên cứu nhằm phân biệt giữa tạm hoãn chức năng với trì hoãn (hay tạm hoãn phản chức năng), đã mở rộng khái niệm của Steel (2007) thành: “Trì hoãn là tự chủ tạm hoãn một hoạt động quan trọng, cần thiết và đã được dự định mặc dù biết rằng việc tạm hoãn đó sẽ gây ra nhiều hệ quả tiêu cực hơn so với hệ quả tích cực”.
Khái niệm này phản ánh một số đặc điểm cốt lỗi của hiện tượng trì hoãn: 6 Trước hết, trì hoãn là một dạng hoãn lại, tạm hoãn hay tạm ngưng một hoạt động hoặc một công việc nào đó (Klingsieck, 2013a; Steel, 2007; Van Eerde, 2003). Nói cách khác, trì hoãn là việc lùi lại thời điểm bắt đầu hoặc hoàn thành một hoạt động hay một công việc nào đó so với một thời điểm nhất định. Đặc điểm cơ bản này cũng là đặc điểm nhận được sự đồng thuận của hầu hết các nhà nghiên cứu về chủ đề trì hoãn (Steel, 2007). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng mặc dù trì hoãn là một dạng tạm hoãn nhưng không phải mọi dạng tạm hoãn đều là trì hoãn (Pychyl, 2013) vì trong nhiều trường hợp, cá nhân buộc phải tạm hoãn một hoạt động nào đó do những vấn đề bất khả kháng, nằm ngoài tầm kiểm soát của cá nhân (Ferrari, 2011).
Chẳng hạn một sinh viên buộc phải tạm hoãn việc học tập của mình do phải đối mặt với những tình trạng khẩn cấp như thiên tai, bão lũ hoặc xuất hiện một công việc khác đòi hỏi cần phải giải quyết ngay nếu không sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng hơn so với việc tạm hoãn hoạt động học tập. Như vậy, điều kiện cần để việc tạm hoãn một hoạt động nào đó trở thành trì hoãn là tính tự chủ. Nói cách khác, trì hoãn là một dạng tạm hoãn được thực hiện trong điều kiện (1) cá nhân không gặp bất cứ trở ngại nào nằm ngoài tầm kiểm soát của bản thân, cản trở cá nhân thực hiện hoạt động và (2) không có một công việc nào khác đòi hỏi cá nhân phải ưu tiên thực hiện nếu không sẽ để lại những hệ quả nghiêm trọng hơn so với việc hoãn lại hoạt động hiện tại. Bên cạnh việc xác định trì hoãn là một dạng tạm hoãn có tính tự chủ, một số nhà nghiên cứu còn tập trung vào khía cạnh khoảng cách giữa dự định và hành vi của hiện tượng trì hoãn (Lay, 1986; Schraw và c.
Những nhà nghiên cứu này cho rằng trì hoãn là tạm hoãn việc thực hiện các dự định hay thực hiện một hoạt động muộn hơn so với dự định ban đầu (Lay & Schouwenburg, 1993). Steel (2007) lập luận rằng việc xác định đặc điểm này giúp phân biệt trì hoãn với việc cá nhân đơn giản là tạm hoãn những hoạt động chưa cần thực hiện hoặc chưa đến lúc được thực hiện theo dự định ban đầu của mình. Cụ thể, tại một thời điểm, có rất nhiều công việc mà cá nhân có thể thực hiện nhưng không thể nói rằng cá nhân đang trì hoãn tất cả 7 những công việc đó. Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy có một mối liên hệ khá chặt chẽ giữa trì hoãn với khoảng cách giữa dự định và hành vi của cá nhân (Steel, 2007).
Cuối cùng, một đặc điểm quan trọng của hiện tượng trì hoãn giúp phân biệt nó với hình thức tạm hoãn chức năng, hay còn gọi là tạm hoãn chiến lược (Klingsieck, 2013a) hoặc tạm hoãn tích cực là tính vô lý (Lay, 1986; Steel, 2007). Tính vô lý này thường được các nhà nghiên cứu mô tả theo nhiều cách khác nhau. Steel (2010) cho rằng tính vô lý của trì hoãn được thể hiện ở chỗ dù cá nhân ý thức được việc hoãn lại của mình sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực nhưng vẫn thực hiện. Trong khi đó, Solomon và Rothblum (1984) mô tả tính vô lý của trì hoãn thông qua cảm giác không thoải mái mà cá nhân thường gặp phải trong khi tạm hoãn một hoạt động.
Ngoài ra, một cách định nghĩa khác đã chỉ ra tính vô lý của trì hoãn thông qua việc xác định đặc điểm của những hoạt động bị trì hoãn là cần thiết và quan trọng (Klingsieck, 2013a; Lay, 1986). Nhiều kết quả nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh cho những quan điểm này khi cho thấy mối liên hệ giữa mức độ trì hoãn với cảm giác xấu hổ (Tangney và c., 2000), tội lỗi (Schraw và c., 2007), trầm cảm (Flett và c., 2016; Steel, 2007), lo âu (Yerdelen, Mccaffrey, & Klassen, 2016) và căng thẳng (Schraw và c., 2007; Sirois, 2014) xuất hiện trong thời gian trì hoãn. Có thể thấy, những cảm xúc tiêu cực này xuất hiện ở người trì hoãn không chỉ vì trì hoãn làm rút ngắn thời gian và tạo nhiều áp lực khi họ bắt đầu thực hiện hoạt động mà còn do sự mâu thuẫn trong nhận thức và hành vi của họ. Như vậy, tính vô lý của trì hoãn tuy được các nhà nghiên cứu mô tả theo nhiều cách khác nhau nhưng bản chất vẫn xuất phát từ việc cá nhân tự chủ tạm hoãn một hoạt động dù ý thức được rằng hoạt động đó cần phải được thực hiện nếu không sẽ gây ra nhiều hệ quả tiêu cực hơn hệ quả tích cực.
Ngược lại với trì hoãn, hình thức tạm hoãn chức năng, tạm hoãn chiến lược (Klingsieck, 2013a) hay còn được gọi là trì hoãn chức năng (để phân biệt với trì hoãn phản chức năng, được đề cập đến trong nghiên cứu của Ferrari và c., 1995) hoặc trì hoãn chủ động (để phân biệt với trì hoãn bị động, được sử dụng trong nghiên cứu của 8 Chu & Choi, 2005) có tính hợp lý. Tính hợp lý này được thể hiện ở chỗ cá nhân ý thức được rằng việc tạm hoãn sẽ tạo ra nhiều hệ quả tiêu cực hơn là tích cực (Chu & Choi, 2005; Seo, 2013). Trong nhiều tình huống, cá nhân có thể tự chủ tạm hoãn hoạt động nhằm chuẩn bị một trạng thái tâm lý, sinh lý tốt nhất để làm việc hoặc nhằm tạo ra sự căng thẳng do rút ngắn thời gian để thúc đẩy động lực của bản thân. Nghiên cứu thực tiễn cho thấy có sự khác biệt giữa những người trì hoãn và những người tạm hoãn chức năng.
Cụ thể, những người tạm hoãn chức năng thường có chủ ý trong việc sử dụng và kiểm soát thời gian, có niềm tin vào năng lực bản thân (Chu & Choi, 2005; Corkin, Shirley, & Lindt, 2011), có động lực tự chủ (Seo, 2013), ít né tránh mục tiêu (Corkin và c., 2011) và cố ý tạm hoãn công việc do cho rằng bản thân làm việc hiệu quả hơn dưới áp lực thời gian hoặc cần chuẩn bị trạng thái tốt nhất để làm việc (Chu & Choi, 2005; Seo, 2013). Như vậy, khái niệm trì hoãn của Steel (2007) và Klingsieck (2013) đã phản ánh được 4 khía cạnh quan trọng của trì hoãn đó là: (1) trì hoãn là một dạng tạm hoãn; (2) trì hoãn có tính tự chủ; (3) hoạt động bị trì hoãn là hoạt động đã được dự định và (4) trì hoãn có tính vô lý. Tuy nhiên, theo chúng tôi, khái niệm này vẫn còn một số hạn chế. Cụ thể, việc xác định hoạt động bị trì hoãn là những hoạt động đã được dự định từ trước khiến cho khái niệm này bỏ qua hai tình huống trì hoãn quan trọng.
Tình huống thứ nhất là cá nhân chần chừ trong việc ra quyết định khi tới thời điểm cần thiết (Mann, 2016). Tình huống này còn được gọi là trì hoãn quyết định (Tenne, 2000). Tình huống thứ hai là khi cá nhân cố ý dự định bắt đầu hay hoàn thành công việc muộn hơn so với thời điểm cần phải bắt đầu hoặc hoàn thành công việc để đạt được hiệu quả cao nhất. Vấn đề này có thể được giải quyết bằng cách tập trung vào khía cạnh thời gian của trì hoãn thay vì khía cạnh khoảng cách giữa dự định và hành vi.
Silver và Sabini (1981) cho rằng trì hoãn không chỉ đơn giản là việc né tránh công việc mà điều cốt lõi của nó là ở chỗ cá nhân bỏ qua thời điểm có thể hoàn thành công việc đó một cách 9 hiệu quả nhất. Chúng tôi đề xuất khái niệm “thời điểm tối ưu chủ quan” để chỉ thời điểm này. Việc thay thế thời điểm tối ưu chủ quan cho thời điểm đã được dự định sẽ khắc phục được hạn chế trong khái niệm của Steel (2007) và Klingsieck (2013) bởi thời điểm đã được dự định có thể là thời điểm tối ưu chủ quan những cũng có thể là thời điểm mà cá nhân cố ý sắp đặt để trì hoãn., (1995), khi đánh giá quan điểm này của Silver và Sabini (1981), đã đưa ra lập luận cho rằng trong nhiều trường hợp cá nhân buộc phải tạm hoãn một công việc nào đó qua thời điểm tối ưu chủ quan vì cần hoàn thành một công việc khác quan trọng hơn và điều này là hợp lý nên không thể coi là trì hoãn.