LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh Việt Nam đang thực sự hòa nhập vào nền kinh tế thế giới bằng việc trở thành thành viên chính thức thứ 150 của tổ chức thƣơng mại thế giới WTO, vị thế của nƣớc ta tiếp tục đƣợc khẳng định, nâng coa trên trƣờng quốc tế. Điều này đem lại nhiều cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế Việt Nam. Bên cạnh đó là những thách thức không nhỏ buộc chúng ta phải nỗ lực hết mình để có thể vƣợt qua những khó khăn trong bƣớc đầu hội nhập. Trong hoàn cảnh này đòi hỏi các tất cả các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế đều phải có những kế hoạch, định hƣớng phát triển phù hợp với yêu cầu của thời đại mới.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động đầu tƣ đặc biệt đƣợc quan tâm. Xu hƣớng phổ biến hiệu quả nhất hiện nay là đầu tƣ theo dự án. Dự án đầu tƣ có tầm quan trọng đặc biệt với sự phát triển kinh tế nói chung và đối với từng doanh nghiệp nói riêng. Sự thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào việc đầu tƣ dự án có hiệu quả hay không.
Quá trình nghiên cứu và lập dự án tiền khả thi đã chứng minh đƣợc điều này. Với thời gian thực tế tại Công ty TNHH Tƣ vấn quản lý và đào tạo Lê Mạnh, em đã chọn đề tài “Lập dự án đầu tƣ mở trung tâm đào tạo và kết nối việc làm” để đƣợc tìm hiểu kỹ hơn công tác lập dự án đầu tƣ, cũng nhƣ muốn để phục vụ cho hoạt động đào tạo của Công ty. Bài khóa luận gồm 3 phần chính: Chƣơng I: Cơ sở lý luận chung về dự án đầu tƣ. Chƣơng II: Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Tƣ vấn quản lý và Đào tạo Lê Mạnh Chƣơng III: Lập dự án đầu tƣ mở trung tâm đào tạo và kết nối việc làm của Công ty TNHH Tƣ vấn quản lý và Đào tạo Lê Mạnh Do còn nhiều hạn chế về cả thời gian và kinh nghiệm nên bài khoá luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em mong nhận đƣợc nhiều ý kiến đóng góp để sửa chữa và hoàn thiện thêm.
Em xin chân thành cám ơn thầy giáo KS Lê Đình Mạnh cùng toàn thể cán bộ nhân viên công ty TNHH Tƣ vấn quản lý và đào tạo Lê Mạnh đã nhiệt tình giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận này. Nguyễn Thị Thu Huyền – Lớp QTTN101 1 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƢ 1. Đầu tƣ và các hoạt động đầu tƣ 1. Khái niệm đầu tƣ Ngƣời ta thƣờng quan niệm đầu tƣ là việc bỏ những nguồn lực hôm nay để mong thu đƣợc lợi nhuận trong tƣơng lai.
Tuy nhiên tƣơng lai chứa đầy những yếu tố bất định mà ta khó biết trƣớc đƣợc. Vì vậy khi đề cập đến khía cạnh rủi ro, bất chắc trong việc đầu tƣ thì các nhà kinh tế quan niệm rằng: đầu tƣ là đánh bạc với tƣơng lai. Còn khi đề cập đến yếu tố thời gian trong đầu tƣ thì các nhà kinh tế lại quan niệm rằng: Đầu tƣ là để dành tiêu dùng hiện tại và kì vọng một tiêu dùng lớn hơn trong tƣơng lai. Tuy ở mỗi góc độ khác nhau ngƣời ta có thể đƣa ra các quan niệm khác nhau về đầu tƣ, nhƣng một quan niệm hoàn chỉnh về đầu tƣ phải bao gồm các đặc trƣng sau đây: - Công việc đầu tƣ phải bỏ vốn ban đầu.
- Đầu tƣ luôn gắn liền với rủi ro, mạo hiểm… Do vậy các nhà đầu tƣ phải nhìn nhận trƣớc những khó khăn nay để có biện pháp phòng ngừa. - Mục tiêu của đầu tƣ là hiệu quả. Nhƣng ở những vị trí khác nhau, ngƣời ta cũng nhìn nhận vấn đề hiệu quả không giống nhau. Với các doanh nghiêp thƣờng thiên về hiệu quả kinh tế, tối đa hoá lợi nhuận.
Còn đối với nhà nƣớc lại muốn hiệu quả kinh tế phải gắn liền với lợi ích xã hội. Trong nhiều trƣờng hợp lợi ích xã hội đƣợc đặt lên hàng đầu. Vì vậy một cách tổng quát ta có thể đƣa ra khái niệm về lĩnh vực đầu tƣ nhƣ sau: Đầu tƣ là một hình thức bỏ vốn vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm thu đƣợc những lợi ích kì vọng trong tƣơng lai. Ở đây ta cần lƣu ý rằng nguồn vốn đầu tƣ này không chỉ đơn thuần là các tài sản hữu hình nhƣ: tiền vốn, đất đai, nhà xƣởng, máy móc, thiết bị, hàng hoá… mà còn bao gồm các loại tài sản vô hình nhƣ: bằng sáng chế, phát minh nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết kĩ thuật, uy tín kinh doanh, bí quyết thƣơng mại, quyền thăm dò khai thác, sử dụng tài nguyên.
Vốn đầu tƣ Nhƣ trên ta đã thấy vốn đầu tƣ là một khái niệm rộng bao gồm nhiều nguồn lực tài chính và phi tài chính khác nhau. Để thống nhất trong quá trình đánh giá, phân tích và sử dụng, ngƣời ta thƣờng quy đổi các nguồn lực này về đơn vị tiền tệ chung. Do đó khi nói đến vốn đầu tƣ, ta có thể hình dung đó là những nguồn Nguyễn Thị Thu Huyền – Lớp QTTN101 2 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng lực tài chính và phi tài chính đã đƣợc quy đổi về đơn vị đo lƣờng tiền tệ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, cho các hoạt động kinh tế xã - hội. Vốn cần thiết để tiến hành các hoạt động đầu tƣ rất lớn, không thể cùng một lúc trích ra từ các khoản chi tiêu thƣờng xuyên của các cơ sở vì điều này sẽ làm xáo động mọi hoạt động bình thƣờng của sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt xã hội.
Ngay nay, các quan hệ tài chính ngày càng đƣợc mở rộng và phát triển. Do đó, để tập trung nguồn vốn cũng nhƣ phân tán rủi ro, số vốn đầu tƣ cần thiết thƣờng đƣợc huy động từ nhiều nguồn khác nhau nhƣ: tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, tiền tiết kiệm của quần chúng và vốn huy động từ nƣớc ngoài. Đây chính là sự thể hiện nguyên tắc kinh doanh hiện đại: "Không bỏ tất cả trứng vào một giỏ". Nhƣ vậy, ta có thể tóm lƣợc định nghĩa và nguồn vốn của gốc đầu tƣ nhƣ sau: Vốn đầu tƣ là các nguồn lực tài chính và phí tài chính đƣợc tích luỹ từ xã hội, từ các chủ thể đầu tƣ, tiền tiết kiệm của dân chúng và vốn huy động từ các nguồn khác nhau đƣợc đƣa vào sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh, trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm đạt đƣợc những hiệu quả nhất định.
Về nội dung của vốn đầu tƣ chủ yếu bao gồm các khoản sau: - Chi phí để tạo các tài sản cố định mới hoặc bảo dƣỡng, sửa chữa hoạt động của các tài sản cố định có sẵn. - Chi phí để tạo ra hoặc tăng thêm các tài sản lƣu động. - Chi phí chuẩn bị đầu tƣ. - Chi phí dự phòng cho các khoản chi phát sinh không dự kiến đƣợc.
Hoạt động đầu tƣ Quá trình sử dụng vốn đầu tƣ xét về mặt bản chất chính là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền để tạo nên những yếu tố cơ bản của sản xuất, kinh doanh và phục vụ sinh hoạt xã hội. Quá trình này còn đƣợc gọi là hoạt động đầu tƣ hay đầu tƣ vốn. Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, hoạt động đầu tƣ là một bộ phận trong quá trình hoạt động của mình nhằm tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật mới, duy trì các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có và là điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Đối với nền kinh tế, hoạt động đầu tƣ là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì các cơ sở vật chất của nền kinh tế.
Nguyễn Thị Thu Huyền – Lớp QTTN101 3 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng 1. Phân loại các hoạt động đầu tƣ Có nhiều quan điểm để phân loại các hoạt động đầu tƣ. Theo từng tiêu thức ta có thể phân ra nhƣ sau: - Theo lĩnh vực hoạt động: Các hoạt động đầu tƣ có thể phân thành đầu tƣ phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tƣ phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng. - Theo đặc điểm các hoạt động đầu tƣ: + Đầu tƣ cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định.
+ Đầu tƣ vận hành nhằm tạo ra các tài sản lƣu động cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mới hình thành hoặc thêm các tài sản lƣu động cho các cơ sở hiện có. - Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng để thu hồi đủ vốn đã bỏ ra: + Đầu tƣ ngắn hạn là hình thức đầu tƣ có thời gian hoàn vốn nhỏ hơn một năm. + Đầu tƣ trung hạn và dài hạn là hình thức đầu tƣ có thời gian hoàn vốn lớn hơn một năm. - Đứng ở góc độ nội dung: + Đầu tƣ mới hình thành nên các cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
+ Đầu tƣ thay thế nhằm mục đích đổi mới tài sản cố định làm cho chúng đồng bộ và tiền bộ về mặt kỹ thuật. + Đầu tƣ mở rộng nhằm nâng cao năng lực sản xuất để hình thành nhà máy mới, phân xƣởng mới… với mục đích cung cấp thêm các sản phẩm cùng loại. + Đầu tƣ mở rộng nhằm tạo ra các sản phẩm mới. - Theo quan điểm quản lý của chủ đầu tƣ, hoạt động đầu tƣ có thể chia thành: + Đầu tƣ gián tiếp: Trong đó ngƣời bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều hành quá trình quản lý, quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tƣ.
Thƣờng là việc các cá nhân, các tổ chức mua các chứng chỉ có giá nhƣ cổ phiếu, trái phiếu. hoặc là việc viện trợ không hoàn lại, hoàn lại có lãi suất thấp của các quốc gia với nhau. + Đầu tƣ trực tiếp: Trong đó ngƣời bỏ vốn trực tiếp tham gia quá trình điều hành, quản lý quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tƣ. Đầu tƣ trực tiếp đƣợc phân thành hai loại sau: Nguyễn Thị Thu Huyền – Lớp QTTN101 4 Khóa luận tốt nghiệp Trƣờng Đại học Dân lập Hải Phòng * Đầu tƣ dịch chuyển: Là loại đầu tƣ trong đó ngƣời có tiền mua lại một số cổ phần đủ lớn để nắm quyền chi phối hoạt động của doanh nghiệp.
Trong trƣờng hợp này việc đầu tƣ không làm gia tăng tài sản mà chỉ thay đổi quyền sở hữu các cổ phần doanh nghiệp.