CHƯƠNG 1: CÁCH LÝ GIẢI VỀ HỘI NHẬP KHU VỰC CHÂU ÂU TRONG CÁC LÝ THUYẾT QUAN HỆ QUỐC TẾ. LÝ THUYẾT ĐỊA CHÍNH TRỊ VỀ HỘI NHẬP CHÂU ÂU 1.1 Cách lý giải về hội nhập khu vực Châu Âu trong các lý thuyết quan hệ quốc tế Trong lịch sử hình thành và hội nhập EU, có rất nhiều học giả trong nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới cố gắng tìm ra lý thuyết giải thích và từ đó định hướng cho sự hội nhập của Liên minh này trong tương lai. Có thể kể đến cả chục lý thuyết như thuyết hiện thực mới, thuyết chức năng mới, thuyết tự do mới, thuyết liên chính phủ, thuyết liên bang, thuyết chủ nghĩa khu vực mới, thuyết thể chế (chủ nghĩa thiết chế hay chủ nghĩa kiến tạo). Chủ nghĩa hiện thực mới1: Mặc dù không ít tư tưởng của trường phái chủ nghĩa hiện thực mới đã bị chỉ trích phê phán, nhưng nhiều khái niệm và giả thuyết cơ bản của trường phái này vẫn có giá trị trong phân tích và giải thích sự vận động của quan hệ quốc tế.
Những luận điểm của trường phái chủ nghĩa hiện thực mới có ảnh hưởng sâu sắc tới những lý luận ban đầu về chủ nghĩa khu vực hay còn gọi là những lý thuyết về hội nhập cổ điển, đặc biệt là chủ nghĩa liên chính phủ. Những lập luận cơ bản của chủ nghĩa hiện thực mới đặt trọng tâm vào vai trò của nhà nước, coi nhà nước là chủ thể chính chi phối tiến trình hội nhập. Tiến trình hội nhập và thể chế hoá phụ thuộc vào nhà nước, lợi ích và quan hệ qua lại giữa các nhà nước với nhau. Mặc dù nhân tố phi nhà nước có vai trò ngày càng tăng, nhưng nhà nước vẫn là nhân tố chính chịu trách nhiệm đàm phán về các chuẩn tắc và luật lệ khi tham gia vào nền kinh tế quốc tế.
Thực tiễn cho thấy tiến trình hội nhập châu Âu chịu nhiều ảnh hưởng của chủ thể nhà nước. Ngoài ra, nhìn từ góc độ khác rộng hơn, chủ nghĩa hiện thực mới vẫn có giá trị lý giải hiện thực mới. Khi có sự thay đổi các chủ thể, khi khu vực thay thế quốc gia-dân tộc trở thành chủ thể chính trong 1 Tiêu biểu cho trường phái này là Kenneth Waltz, Morgenthau, Robert Jervis, George Quester và Stephan Van Evera. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chính trị quốc tế, chính trị giữa các quốc gia sẽ được thay thế bằng chính trị giữa các khu vực, nhưng vẫn xoay quanh những vấn đề cốt lõi của chính trị như cạnh tranh, sự đối lập giữa chiến tranh và hòa bình, và đấu tranh quyền lực.
- Thuyết chủ nghĩa tự do mới: Quan điểm của trường phái lý luận quan hệ quốc tế của chủ nghĩa tự do mới cũng có những dấu ấn quan trọng trong tiến trình phát triển của những lý luận về chủ nghĩa khu vực thời kỳ đầu. Về vai trò của nhà nước, thuyết về sự phụ thuộc lẫn nhau cho rằng hợp tác giữa các quốc gia, chủ yếu là giữa các chủ thể nhà nước, được xúc tiến khi các bên nhận thức được mối đe dọa chung, hoặc để đối phó với những mối đe dọa mới xuất hiện như sự đình trệ kinh tế hay tình hình bất ổn định, gọi chung là những vấn đề “xuyên biên giới" mà bất cứ quốc gia nào, dù mạnh đến đâu cũng không thể một mình xử lý được. Luận điểm của chủ nghĩa tự do về kinh tế thị trường và tự do thương mại, về sự hội nhập và phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế-chính trị giữa các chủ thể trong hệ thống quốc tế có ảnh hưởng tới luận điểm cơ bản của trường phái chức năng mới ở chỗ cho rằng hội nhập kinh tế sẽ tạo ra sức ép dẫn tới hội nhập chính trị, và hội nhập chính trị tới lượt nó sẽ thúc đẩy nhanh hơn nữa hội nhập kinh tế. Quan điểm của những người theo chủ nghĩa tự do cho rằng "các cơ chế quốc tế và sự quản lý toàn cầu ở một mức độ nào đó là cần thiết để đàm phán và thực thi các hiệp định toàn cầu", nhằm tới mục tiêu cuối cùng là tạo ra một sự hội nhập khu vực, xây dựng một thể chế siêu quốc gia theo mô hình liên bang (hoặc khu vực).
Những ý tưởng của chủ nghĩa tự do mới đã được phản ánh rõ nét qua các cuộc đàm phán thương mại để thành lập GATT cũng như một loạt các hiệp định mậu dịch tự do khu vực (Free Trade Agreement-FTA) giữa các nước thành viên của liên minh châu Âu-EU và Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mỹ- NAFTA sau này. - Thuyết chức năng mới: Đầu thập kỷ 50 thế kỷ XX, tiến trình hội nhập châu Âu đã khởi động trước hết với việc cải thiện quan hệ Pháp-Đức thông qua ý tưởng Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC) năm 1952, và tiếp đến là Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) và Cộng đồng Nguyên tử châu Âu (Euratom). Sự ra đời của những chính sách hội nhập châu Âu mang tính siêu quốc gia như "kế hoạch Schuman" hay "phương pháp Monnet" góp phần khẳng định vị trí tiên phong trong lý luận chủ 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa khu vực của những người theo trường phái chức năng mới (neo-functionalism) trong thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX như Earst Haas (1958, 1964), Leon Lindberg (1966) [104]. Thuyết này dựa chủ yếu vào các nghiên cứu tập trung đối với các vụ việc thực tế cụ thể.
Haas, Nye và Lindberg được xem là cha đẻ của cách tiếp cận này. Hass xem xét hoạt động hội nhập như là quá trình hình thành và mở rộng các thương lượng, dàn xếp cùng có lợi. Ông lập luận rằng có những cách hợp tác giữa các chính phủ, trong đó những kinh nghiệm hợp tác trong một số lĩnh vực cụ thể có thể dẫn tới sự hợp tác của những lĩnh vực khác: sự hợp tác có thể bắt đầu trong lĩnh vực ít liên quan tới chính trị (ví dụ than và thép) và có thể mở rộng dần sang các lĩnh vực chính trị quan trọng khác (ví dụ ngoại giao) và quốc phòng. Nói cách khác, có một quá trình “chảy tràn” (spillover) từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác2.
Haas cho rằng quá trình này không phải là một quá trình tự động hoặc tất yếu xảy ra mà nó phụ thuộc vào sự lựa chọn khả năng hợp tác gữa cá chính phủ và các chủ thể khác. Theo Haas và những người theo chủ nghĩa chức năng, tiến trình hội nhập khu vực sẽ được thúc đẩy trên ba giả định: (i) tác động lan tỏa; (ii) cam kết trung thành của các nhóm lợi ích chuyển từ cấp độ quốc gia sang thể chế khu vực; (iii) vai trò quyết định của các thể chế siêu quốc gia đối với tiến trình hội nhập khi các thể chế này có quyền lực hơn và độc lập hơn với các quốc gia thành viên. Cuối những năm 1960, lý luận của trường phái chức năng mới đã vấp phải những thất bại trong việc lý giải và dự đoán tiến trình hội nhập châu Âu do sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc mà tiêu biểu là vai trò của De Gaulle (Pháp). Nó đã làm tê liệt các cơ chế hợp tác khu vực (ECSC, EEC và EURATOM).
2 Luận điểm này được cho là chịu ảnh hưởng của những người theo “trường phái tương tác” ("transactionalism") cho rằng "hội nhập là quá trình tiệm tiến trước hết ở lĩnh vực kinh tế, văn hoá-xã hội và bản sắc chính trị, rồi tiến tới thể chế hoá chính trị". Các luận điểm của những người theo trường phái này chủ trương rằng thông qua tiếp xúc để xây dựng “tính cộng đồng” (sense of community) cũng có ảnh hưởng nhất định đối với những lý luận về hội nhập châu Âu và chiến lược phù hợp nhất để đạt tới mục tiêu cuối cùng (tức là sự nhất thể hoá khu vực) cần phải là một chiến lược từng bước, thông qua chính sách hội nhập từng lĩnh vực chức năng cụ thể để chuyển dần quyền lực từ cấp độ nhà nước quốc gia sang trung tâm mới 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thuyết liên chính phủ: Năm 1968, Haas đã thừa nhận học thuyết chủ nghĩa chức năng mới không còn phù hợp với thực tiễn mới, chính thức nhường lại vị trí thống soái về tư tưởng và lý luận chủ nghĩa khu vực của trường phái này cho những người thuộc trường phái chủ nghĩa liên chính phủ (intergovernmentalism) đứng đầu là Stanley Hoffmann. Hoffmann đã phê phán quan điểm của chủ nghĩa chức năng mới, cho rằng trường phái này đã mắc phải những sai lầm về mặt lý luận vì: (i) tiến trình hội nhập không phải là quá trình khép kín, mà còn chịu tác động của môi trường quốc tế; (ii) nhà nước quốc gia là nhân tố có quyền lực mạnh nhất trong tiến trình hội nhập châu Âu, quyết định bản chất và tiến độ hội nhập trên cơ sở mối quan tâm nhằm bảo vệ và phát huy "lợi ích quốc gia" của mình; (iii) hội nhập ở những lĩnh vực chính trị cấp thấp không chắc sẽ đưa tới sự liên kết ở những lĩnh vực chính trị cấp cao. Theo Hoffmann, tiến trình hội nhập châu Âu là quá trình chính phủ các quốc gia tự nguyện tham gia các hiệp định nhằm phối hợp giải quyết các vấn đề chung.
Quyền lực vẫn thuộc về chính phủ các quốc gia thành viên và các quyết định được đưa ra trên cơ sở nhất trí, chủ yếu là sự đồng thuận giữa các cường quốc. Nói cách khác, tiến trình hội nhập chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của các chính phủ thành viên, mang tính chất liên chính phủ nhiều hơn là tính chất siêu quốc gia, và "tiến trình hội nhập chỉ tiến triển trong phạm vi mà chính phủ các quốc gia mong muốn mà thôi" [103]. Vào đầu những năm 1990, với những nghiên cứu của Andrew Moravcsik - những người theo trường phái chủ nghĩa liên chính phủ củng cố thêm một bước quan trọng học thuyết của mình về mặt lý luận để đáp ứng với tình hình mới. Cũng giống như Hoffmann, Moravcsik khẳng định quốc gia vẫn là nhân tố lý tính quyết định trong tiến trình hội nhập châu Âu.
Tuy nhiên, học thuyết chủ nghĩa liên chính phủ tự do mới (neo-liberal intergovernmentalism) của Moravcsik có sự kết hợp với cách tiếp cận của những người theo chủ nghĩa chức năng mới. Trong phân tích và lý giải tiến trình hội nhập châu Âu, Moravcsik đưa ra những nhận xét rất có giá trị: (i) tiến trình thương lượng liên chính phủ giữa các quốc gia tham gia tiến trình hội nhập khu vực châu Âu giúp củng cố quyền lực của 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.