Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 1. Khái niệm và thuật ngữ có liên quan đề tài nghiên cứu 1.1 Khái niệm về nhu cầu Theo chủ nghĩa Mác- Lênin xã hội loài người vận động và phát triển theo quy luật của hình thái kinh tế xã hội, sự thay thế này chịu sự quy định của sự phát triển của lực lượng sản xuất. Những lực lượng sản xuất này sẽ góp phần thỏa mãn những nhu cầu cơ bản và thỏa mãn những nhu cầu cao hơn của con người.
điều đó có nghĩa là nhu cầu kích thích lực lượng sản xuất. Mác viết không có nhu câu thì không có sản xuất. Có thể nói nhu cầu con người luôn luôn thay đổi từ thấp đến cao, từ dạng này sang dạng khác. Nhu cầu này được thỏa mãn, lập tức xuất hiện các nhu cầu khác.
Trong mỗi con người đều hình thành hệ thống nhu cầu, nhu cầu nào lớn sẽ chi phối các nhu cầu khác và đòi hỏi con người phải đáp ứng nhu cầu đó. Bên cạnh đó nhu cầu cũng là một mâu thuẫn vừa xuất hiện lại vừa mất đi, nó hoàn toàn được thỏa mãn, rồi lại nẩy sinh nhu cầu mới. chính vì vậy những nhu cầu nhất định của con người là có tính lịch sử, cụ thể nhưng tổng các nhu cầu chỉ tồn tại vĩnh cửu với đời sống hoạt động con người. Do đó hoạt động vui chơi giải trí của trẻ em nhằm thỏa mãn nhu cầu, cũng như tạo ra nhu cầu mới nhằm nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người còn mang bản chất xã hội và nhân văn trong hoạt động của chính họ.
Mác đã khẳng định: “cảm giác bị nhu cầu thực tiễn thô lậu cầm tù chỉ có một ý nghĩa hạn hẹp. Đối với con ngươi sắp chết đói thì không có hình thức người của thức ăn, mà chỉ có sự tồn tại trìu tượng của nó với tính cách là thức ăn có thể có hình thức thô lỗ nhất và không thể nói nuốt thức ăn ở chỗ nào. Con người cùng khổ bị những nỗi lo lắng dày vò hững hờ ngay cả đối với cảnh tượng tuyệt đẹp. Bất cứ hoạt động nào của con người cũng là nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của bản thân.
Nhưng nhu cầu với tư cách là một điều kiện bên trong là trạng thái thiếu thốn của cơ thể trạng thái này không gây ra bất kỳ hoạt động nào có định hướng nhất định. Chức năng của nó chỉ giới hạn trong việc phát động những chức năng sinh lý tương ứng và kích thích chung đối với lĩnh vực biểu hiện thành những .21 z cử động tìm tòi không có phương hướng. chỉ khi nào gặp được đối tượng đáp ứng thì khi đó nhu cầu mới trở thành có năng lực hướng dẫn và điều chỉnh hoạt động sự việc cho nhu cầu chứa đầy nội dung rút ra từ thế giới xung quanh. Như vậy các nhà khoa học tập trung làm rõ khái niệm, đặc trưng chủ yếu của nhu cầu con người xã hội.
chúng ta có thể thấy: Dưới góc độ tâm lý cá nhân, vấn đề nhu cầu được tiếp cận với tư cách một cấu trúc tâm lý quy định xu hướng nhân cách, khẳng định một cách hệ thống rằng “nhu cầu- nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực của con người. xuất phát từ quan điểm cho rằng, nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi con người. Theo từ điển tóm tắt xã hội học (tiếng Nga) “nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần thiết để, đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của những nhân cách con người của nhóm xã hội hoặc toàn xã hội nói chung; là nguồn thôi thúc nội tạng của hoạt động”. Tác giả Lê Thị Kim Chi, Viện Triết học đưa ra khái niệm: nhu cầu là những trạng thái thiếu hụt và những đòi hỏi cần được đáp ứng của chủ thể (con người và xã hội) để tồn tại và phát triển.
Theo quan điểm của tâm lý học thì khái niệm nhu cầu dùng để chỉ sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy được thỏa mãn để đảm bảo sự tồn tại và phát triển. Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể và nội dung của nó do những điều kiện và phương thức thỏa mãn quy định. Khi nào đối tượng của nhu cầu có khả năng đáp ứng thì lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của các cá nhân hay nhóm xã hội Nhu cầu của con ngưởi rất đa dạng thường được chia làm 2 loại đó là nhu cầu vật chất và tinh thần. Nhu cầu vật chất có liên quan mật thiết với hoạt động của cơ thể vì đôi khi được mô tả như các xung năng sơ cấp hoặc sinh lý.
Chẳng hạn như xung năng tình dục, xung năng đói. Đó là các nhu cầu bẩm sinh, các nhu cầu vật chất thông thường ở người là nhu cầu thực phẩm, phương tiên sinh sống như: nước, oxy, không khí để tồn tại sự sống. Nhu cầu được hoạt động hoặc kích thích cảm giác và vận động kể cả khoái cảm, tình dục, luyện tập cơ thể và nghỉ ngơi.22 z Nhu cầu tinh thần nảy sinh trên cơ sở nhu cầu vật chất, và được nhu cầu vật chất nuôi dưỡng. Nhu cầu tinh thần làm cho nhu cầu vật chất biến dạng cao thường phức tạp hơn thêm.
Nhu cầu tinh thần vô cùng đa dạng: nhu cầu được giao lưu văn hóa nghệ thuật, nhu cầu chơi thể thao, vui chơi, nhu cầu làm khoa học chính trị… Kế thừa và bổ sung tác giả đưa ra khái niệm nhu cầu: “ Nhu cầu là sự đòi hỏi một cái gì đó để có thể đáp ứng những mong mỏi của chủ thể, nhu cầu này nối tiếp nhu cầu kia một cách cao hơn, hoạt động mới được nảy sinh, thúc đấy sự phát triển con người và xã hội”. Như vậy tóm lại nhu cầu của con người là vô cùng, nhu cầu con người càng nhiều thể hiện đời sống con người càng cao. Nhu cầu được vui chơi giải trí, giao lưu văn hóa là một trong những nhu cầu đó của con người.2 Khái niệm về dịch vụ Theo từ điển tiếng việt: dịch vụ là công cụ phục vụ trực tiếp cho nhu cầu của số đông, có tổ thức và được trả công [20, 256] Dich vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp cho nhu cầu nhất định của xã hội.
[19, 136] Dịch vụ vui chơi giải trí là một trong những dịch vụ quan trọng trong các dịch vụ xã hội. Và dịch vụ xã hội được Liên hợp quốc định nghĩa như sau: Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụ cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Dịch vụ xã hội bao gồm 4 loại chính: Dịch vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ bản: Việc ăn uống, vệ sinh, chăm sóc, nhà ở….mọi đối tượng yếu thế là trẻ em, người tàn tật mất khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực. – Dịch vụ y tế: Bao gồm các hình thức khám chữa bệnh, điều dưỡng phục hồi chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng.
– Dịch vụ giáo dục: Trường học, các lớp tập huấn, đào tạo kỹ năng sống, các hình thức giáo dục hoà nhập, hội nhập và chuyên biệt… .23 z – Dịch vụ về giải trí, tham gia và thông tin: Đây là loại hình dịch vụ xã hội rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công tác xã hội, hoạt động giải trí như văn nghệ, thể thao,… nâng cao sự tự tin, đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết, kiến thức cho đối tượng… Trong chuyên đề nghiên cứu này tác giả chỉ đi sâu vào dịch vụ vui chơi giải trí để thấy rõ được sự thiếu hụt trong các nhu cầu cơ bản của trẻ em.3 Khái niệm vui chơi giải trí trẻ em Theo từ điển tiếng việt Giải trí là nhu cầu hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rảnh rỗi, là sự thanh thản về đầu óc, bay bổng về tâm hồn, con người hoàn toàn tự do, thoát khỏi những băn khoăn lo lắng, say sưa với hoạt động giải trí. [26,331] Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí. Khi xuất hiện nhu cầu giải trí con người bị thôi thúc hành động để thỏa mãn nhu cầu đó. Nhu cầu giải trí thuộc cấp bậc cao của nhu cầu con người do không gắn liền với sự tồn tại sinh học mà là sự vươn cao, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần tự hoàn thiện và khẳng định mình.
Nhu cầu giải trí là nhu cầu phát triển toàn diện trí não của con người sau thời gian lao động mệt mỏi và học tập căng thẳng, các trò chơi sáng tạo giúp con người phát triển về trí tuệ và tư duy, các trò chơi vận động giúp con người con phát triển về thể lực, những hoạt động thưởng thức nghệ thuật, ca múa nhạc, văn hóa văn nghệ… là các hoạt động vô cùng thiết thực nâng cao đời sống thẩm mỹ Theo từ điển xã hội học : “giải trí là một dạng hoạt động của con người, đáp ứng những nhu cầu phát triển của con người về mặt thể chất, trí tuệ và mỹ học”. Và “ giải trí không phải là nhu cầu của từng cá nhân mà còn là nhu cầu của đời sống cộng đồng” [27,612] Vui chơi giải trí là làm cho trí hóa thảnh thơi, không lo nghĩ [26,520]. Giải trí không đối lập và tách rời với lao động cũng giống nhu lao động, giải trí là một bộ phận cấu thành hoạt động sống của con người mà nhất là đối với trẻ em. Nó là dạng hoạt động tự do mà cá nhân có toàn quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ hệ thống chuẩn mực xã hội.
nó đồng thời cũng là hoạt động không vụ lợi, nhằm mục đích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần để đạt sự thư dãn, thanh thản trong tâm hồn, cao hơn nữa là đạt tới dung cảm thẩm mĩ của cá nhân như thưởng thức nghệ thuật, chơi trò chơi, sinh hoạt theo chủ đề…. Khái niệm trẻ em, trẻ em nghèo và trẻ em nghèo đa chiều Khái niệm trẻ em: Theo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 của Việt Nam trẻ em là công dân dưới 16 (mười sáu) tuổi( điều 1). Trẻ em nghèo: là những công dân dưới 16 tuổi thuộc hộ nghèo.