Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2001 - 2011, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng quy mô sinh viên bình quân 9% mỗi năm. Tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân tăng vọt từ 162 năm 2001 lên 251 năm 2011, và đến năm 2013 cả nước đã có 421 trường đại học và cao đẳng với quy mô đào tạo trên 2 triệu sinh viên. Dù gia tăng mạnh về số lượng, mô hình đào tạo đại học truyền thống nặng về lý thuyết hàn lâm đang bộc lộ khoảng cách lớn so với đòi hỏi thực tiễn của thị trường lao động, dẫn đến nghịch lý thừa thầy thiếu thợ và năng suất lao động chưa tương xứng với tiềm năng.

Trước thách thức đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục của tác giả Nhữ Thị Việt Dung tại Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội tập trung giải quyết vấn đề xây dựng mô hình trường đại học định hướng ứng dụng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Mục tiêu cụ thể của công trình là làm rõ cơ sở lý luận, phân tích mô hình đại học khoa học ứng dụng thành công tại các quốc gia phát triển như Đức, Hà Lan, Phần Lan, đồng thời phân tích thực trạng hệ thống phân tầng giáo dục đại học trong nước giai đoạn 2001 - 2015 nhằm đề xuất mô hình khả thi, đồng bộ từ tổ chức bộ máy, chương trình đào tạo đến cơ chế hợp tác doanh nghiệp.

Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với việc thực thi Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP và Luật Giáo dục đại học năm 2012, hướng đến mục tiêu đạt tỷ lệ 70% đến 80% sinh viên theo học các chương trình nghề nghiệp - ứng dụng trước năm 2020. Trong bối cảnh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP và 99,6% doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc thiết lập mô hình đại học ứng dụng chuẩn hóa là đòn bẩy quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia khi hội nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên hệ thống khung lý thuyết phát triển giáo dục đại học hiện đại, nổi bật là lý thuyết phân kỳ phát triển của Martin Trow với ba giai đoạn: giáo dục tinh hoa khi tỷ lệ nhập học đại học dưới 15%, giáo dục đại chúng khi tỷ lệ đạt 15% đến 50%, và giáo dục phổ cập khi vượt ngưỡng 50%. Việt Nam chính thức bước vào ngưỡng giáo dục đại chúng từ năm học 2004 - 2005, đặt ra yêu cầu tất yếu phải đa dạng hóa mô hình đào tạo thay vì duy trì duy nhất mô hình đại học tinh hoa.

Bên cạnh đó, nghiên cứu đối sánh mô hình đại học nghiên cứu Humboldt xuất hiện từ thế kỷ 19 tại Đức chuyên sâu về nghiên cứu cơ bản với mô hình Đại học Khoa học Ứng dụng ra đời từ thập niên 1960. Tác giả vận dụng các chuẩn mực từ Dự án HAPHE của Hiệp hội Các Cơ sở Giáo dục Đại học Châu Âu và Dự án POHE tại Việt Nam để làm rõ 4 khái niệm trụ cột: trường đại học khoa học ứng dụng, giáo dục định hướng nghề nghiệp ứng dụng, năng lực việc làm tích hợp và mô hình quản trị theo cấu trúc cấp dưới kết hợp chuẩn đầu ra CDIO.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính chuyên sâu kết hợp tổng hợp dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo về mạng lưới 449 trường đại học, cao đẳng tính đến năm 2014, cùng các văn kiện chiến lược giáo dục quốc gia và tài liệu đối sánh quốc tế của OECD, Ngân hàng Thế giới.

Cỡ mẫu khảo sát thực chứng gồm 45 chuyên gia đầu ngành, nhà quản lý giáo dục và giảng viên nòng cốt tại các cơ sở đào tạo trọng điểm, tiêu biểu là Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải. Phương pháp chọn mẫu định mức kết hợp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm đảm bảo tính am hiểu sâu sắc về giáo dục kỹ thuật thực hành. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích tài liệu và phỏng vấn chuyên sâu vì đây là công cụ tối ưu để mổ xẻ các khía cạnh thể chế, triết lý quản trị và cơ cấu chương trình vốn mang tính trừu tượng cao, giúp chuyển hóa kinh nghiệm quốc tế từ hơn 200 trường ứng dụng tại Đức thành mô hình phù hợp với bối cảnh Việt Nam trong timeline thực hiện từ năm 2013 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt bản chất giữa đại học nghiên cứu và đại học ứng dụng thông qua các số liệu đối sánh chuẩn mực. Báo cáo Dự án HAPHE khẳng định có tới 56% chuyên gia đồng thuận rằng trường đại học ứng dụng phải tập trung cao độ vào thực hành nghề nghiệp, 56% nhấn mạnh yêu cầu thực tập bắt buộc tại doanh nghiệp và 40% tập trung vào nghiên cứu ứng dụng thực tế.

Tại Hà Lan, hệ thống 45 trường đại học khoa học ứng dụng thu hút hơn 375.000 sinh viên, chiếm 20% thị trường lao động so với mức chỉ 9% của các đại học nghiên cứu truyền thống. Cấu trúc chương trình tại đây dành 66,7% thời lượng cho xử lý tình huống thực tế và 33,3% cho giải quyết vấn đề theo nhóm.

Trái lại, thực trạng mạng lưới 449 cơ sở giáo dục đại học và cao đẳng tại Việt Nam năm 2014 phân bố mất cân đối nghiêm trọng: Hà Nội tập trung 115 trường chiếm 25,6%, Thành phố Hồ Chí Minh có 74 trường chiếm 16,5%, trong khi khu vực Tây Nguyên chỉ có 13 trường chiếm 2,9%. Toàn bộ hệ thống gần như vận hành theo định hướng hàn lâm lý thuyết, thiếu vắng các trường đại học ứng dụng chuẩn hóa để phục vụ cho 99,6% doanh nghiệp vừa và nhỏ trên toàn quốc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự bất cập này bắt nguồn từ cơ chế quản lý dàn trải, các trường chạy đua mở ngành đa lĩnh vực để thu hút người học mà thiếu sự điều phối theo nhu cầu thực tế của thế giới việc làm. Giảng viên tại các trường đại học trong nước phần lớn thiếu trải nghiệm sản xuất trực tiếp, khác biệt hoàn toàn với mô hình tại Đức, nơi giảng viên bắt buộc phải có từ 3 đến 5 năm kinh nghiệm làm việc thực tế trong các ngành công nghiệp.

Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các luận điểm của Ben Jongbloed (2004) và Phạm Thị Ly (2014) về vai trò trung tâm của trường đại học ứng dụng trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo khu vực. Mô hình dữ liệu có thể được hình dung trực quan qua biểu đồ phân bổ mạng lưới cơ sở giáo dục theo 8 vùng sinh thái kinh tế và bảng ma trận đối sánh 6 tiêu chí cốt lõi: sứ mạng phục vụ đại chúng, chương trình gắn kết doanh nghiệp, đội ngũ giảng viên kép, nguồn tài chính từ công nghiệp, bằng cấp cao nhất là thạc sĩ ứng dụng và vị trí địa lý đặt gần các khu công nghiệp trọng điểm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu toàn diện, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm định hình và phát triển mô hình trường đại học định hướng ứng dụng tại Việt Nam:

  1. Hoàn thiện hành lang pháp lý và tiêu chuẩn phân tầng đại học: Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm ban hành bộ tiêu chí kiểm định chất lượng riêng biệt cho khối trường ứng dụng, thiết lập cơ chế công nhận văn bằng cử nhân chuyên nghiệp và thạc sĩ ứng dụng, phấn đấu đạt mục tiêu 70% đến 80% sinh viên theo học định hướng này trong giai đoạn 2016 - 2020.
  2. Tái cấu trúc chương trình đào tạo theo mô hình CDIO và ECTS: Các trường đại học chuyển đổi cấu trúc môn học, nâng tỷ lệ thời lượng thực hành và dự án thực tế lên mức 40% đến 50% tổng khối lượng kiến thức, đồng thời quy định kỳ thực tập bắt buộc tại doanh nghiệp tối thiểu 1 học kỳ kéo dài từ 5 đến 6 tháng trước khi tốt nghiệp.
  3. Kiện toàn tổ chức bộ máy và phát triển đội ngũ giảng viên kép: Hội đồng trường cần bổ sung từ 30% đến 40% thành viên là đại diện các hiệp hội nghề nghiệp và lãnh đạo doanh nghiệp. Đặt ra lộ trình đến năm 2018, 100% giảng viên chuyên ngành phải tích lũy tối thiểu 2 năm kinh nghiệm thực tiễn hoặc hoàn thành các đợt biệt phái tại doanh nghiệp.
  4. Mở rộng cơ chế liên kết nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ: Các trường phối hợp cùng chính quyền địa phương thành lập các trung tâm chuyển giao công nghệ, đặt mục tiêu giai đoạn 2017 - 2022 có ít nhất 30% kinh phí nghiên cứu khoa học của nhà trường được tài trợ từ các hợp đồng dịch vụ và thương mại hóa sản phẩm với khối doanh nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và lý luận sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sử dụng luận văn để cụ thể hóa các thông tư về phân tầng, xếp hạng cơ sở giáo dục đại học, tối ưu hóa quy hoạch mạng lưới 449 trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc.
  • Ban giám hiệu và nhà quản lý cơ sở giáo dục đại học: Lãnh đạo các trường đại học công lập và ngoài công lập tham khảo mô hình tổ chức bộ máy, Hội đồng tư vấn và chiến lược tự chủ tài chính thông qua dịch vụ kỹ thuật để chuyển đổi mô hình thành công.
  • Giảng viên và chuyên gia phát triển chương trình: Cung cấp khung năng lực nghề nghiệp POHE, phương pháp thiết kế bài giảng tích hợp lý thuyết với giải quyết tình huống thực tế và quy trình đánh giá kết quả học tập theo chuẩn đầu ra.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề: Giúp khối 99,6% doanh nghiệp vừa và nhỏ nắm bắt cơ chế hợp tác song hành, tham gia sâu vào quy trình đào tạo và đặt hàng các dự án nghiên cứu ứng dụng đúng địa chỉ.

Câu hỏi thường gặp

Trường đại học định hướng ứng dụng khác gì so với trường đại học nghiên cứu? Trường đại học nghiên cứu tập trung vào tri thức hàn lâm, nghiên cứu cơ bản và đào tạo tiến sĩ cho tầng lớp tinh hoa. Ngược lại, trường đại học ứng dụng hướng tới giáo dục đại chúng, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp thực tế với 56% khảo sát chuẩn quốc tế khẳng định trọng tâm là thực hành và kỳ thực tập doanh nghiệp kéo dài từ 1 đến 2 học kỳ.

Tỷ lệ thời lượng giữa lý thuyết và thực hành trong mô hình ứng dụng chuẩn là bao nhiêu? Theo chuẩn mực quốc tế từ mô hình Hà Lan và Đức, chương trình ứng dụng phân bổ khoảng 60% đến 70% thời lượng cho thực hành, bài tập dự án nhóm và xử lý tình huống thực tế tại xưởng hoặc doanh nghiệp, trong khi khối lượng lý thuyết nền tảng chỉ chiếm khoảng 30% đến 40% tổng số tín chỉ.

Tại sao Việt Nam cần ưu tiên phát triển mô hình đại học ứng dụng trong giai đoạn hiện nay? Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hóa với khu vực công nghiệp và dịch vụ chiếm 85% GDP. Hơn 99,6% doanh nghiệp là quy mô vừa và nhỏ đang rất thiếu nhân lực kỹ thuật tay nghề cao. Việc mở rộng mô hình này giúp nâng cao năng suất lao động và tăng sức cạnh tranh trong thị trường 600 triệu dân của ASEAN.

Văn bằng của trường đại học khoa học ứng dụng có giá trị như đại học truyền thống không? Tại châu Âu, cử nhân chuyên nghiệp và cử nhân học thuật đều xếp ở Mức 6 Khung trình độ chung châu Âu (EQF level 6). Bằng cử nhân và thạc sĩ ứng dụng có giá trị pháp lý tương đương, được các nhà tuyển dụng đánh giá rất cao về năng lực thích ứng ngay với công việc mà không cần đào tạo lại.

Doanh nghiệp đóng vai trò gì trong cơ cấu quản trị của trường đại học ứng dụng? Doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào Hội đồng trường với tỷ lệ từ 30% đến 40%, tham gia phản biện chuẩn đầu ra, tài trợ trang thiết bị thí nghiệm, tiếp nhận sinh viên thực tập từ 5 đến 6 tháng và đặt hàng các đề tài nghiên cứu chuyển giao công nghệ ứng dụng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về phân tầng giáo dục đại học của Martin Trow và kinh nghiệm thành công của hơn 200 trường đại học khoa học ứng dụng tại Đức và Hà Lan.
  • Làm rõ thực trạng bất cập của mạng lưới 449 trường đại học, cao đẳng Việt Nam và khẳng định sự cần thiết phải chuyển dịch mô hình đào tạo theo nhu cầu thế giới việc làm.
  • Xây dựng mô hình tổng thể trường đại học khoa học ứng dụng với 6 phân hệ cốt lõi: tổ chức bộ máy, chương trình chuẩn CDIO, phương pháp giảng dạy tích hợp, kiểm tra đánh giá theo năng lực, nghiên cứu ứng dụng và liên kết doanh nghiệp.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ triển khai Luật Giáo dục đại học năm 2012 và hiện thực hóa mục tiêu 70% đến 80% sinh viên học ứng dụng.
  • Đề ra lộ trình hành động chi tiết giai đoạn 2016 - 2020 nhằm thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và 99,6% doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Để hiện thực hóa mô hình này, các cơ sở giáo dục đại học kỹ thuật tại Việt Nam cần chủ động rà soát khung chương trình, tăng cường liên kết công nghiệp và đẩy mạnh tự chủ học thuật ngay từ hôm nay.