Tổng quan nghiên cứu

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cả nước có hơn 162.000 cán bộ, nhân viên và cộng tác viên làm việc trong hệ thống bảo trợ xã hội và chăm sóc trẻ em. Tuy nhiên, phần lớn đội ngũ này chưa qua đào tạo bài bản về công tác xã hội chuyên nghiệp. Nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết về nguồn nhân lực chất lượng cao, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành mã ngành đào tạo Công tác xã hội theo Quyết định số 08-QĐ/BGDĐT-ĐH&SĐH vào tháng 1/2004. Là một trong những đơn vị tiên phong, Khoa Công tác xã hội thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chính thức thành lập năm 2011, giữ vai trò trọng điểm trong hệ thống giáo dục đại học. Dù vậy, chương trình đào tạo cử nhân hiện hành phân bổ 210 tiết thực hành trên tổng số 1.950 tiết toàn khóa, chỉ chiếm khoảng 10,7% tổng thời lượng. Thực trạng này tạo ra khoảng cách đáng kể giữa lý luận hàn lâm và kỹ năng tác nghiệp thực tế của sinh viên khi bước vào môi trường nghề nghiệp.

Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là nhận diện những rào cản, khó khăn mà người học đối mặt trong các kỳ thực địa, đồng thời xác định nhu cầu thiết lập mô hình thực hành chuyên nghiệp. Mục tiêu cụ thể của luận văn bao gồm: đánh giá thực trạng tổ chức 4 học phần thực hành thực tập; phân tích khó khăn về kỹ năng, tâm lý và tương tác xã hội của sinh viên; đo lường kỳ vọng đối với các hình thức thực tập; và đề xuất mô hình thử nghiệm gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường và cơ sở tiếp nhận. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện trực tiếp tại Khoa Công tác xã hội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ tháng 6/2014 đến tháng 12/2014. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, góp phần chuẩn hóa năng lực nghề nghiệp cho hơn 325 sinh viên chính quy tại khoa, nâng cao tỷ lệ sinh viên làm việc đúng chuyên ngành sau tốt nghiệp lên trên 80% và hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của Đề án 32 về phát triển nghề Công tác xã hội tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng tích hợp 3 hệ thống lý thuyết then chốt trong khoa học xã hội và công tác xã hội chuyên nghiệp:

Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow đóng vai trò định hướng phân tích các tầng bậc kỳ vọng của sinh viên. Mô hình phân cấp từ nhu cầu an toàn (môi trường thực tập thuận lợi, không bị áp lực tiêu cực), nhu cầu xã hội (sự chấp nhận, hỗ trợ từ kiểm huấn viên và nhân sự tại cơ sở), nhu cầu được tôn trọng (được ghi nhận năng lực chuyên môn) đến nhu cầu tự thể hiện (vận dụng sáng tạo kỹ năng can thiệp trị liệu). Việc thỏa mãn các nhu cầu này là động lực thúc đẩy tính tích cực học tập của sinh viên.

Thuyết hệ thống sinh thái cung cấp lăng kính toàn diện để xem xét mối tương tác đa chiều giữa cá nhân sinh viên với các tiểu hệ thống xung quanh: hệ thống vi mô (thân chủ, gia đình thân chủ), hệ thống trung mô (nhà trường, giảng viên hướng dẫn, cơ sở bảo trợ xã hội, kiểm huấn viên) và hệ thống vĩ mô (chính sách an sinh xã hội, khung pháp lý đào tạo).

Thuyết vị trí - vai trò xã hội làm sáng tỏ những kỳ vọng hành vi gắn liền với vị thế của người nhân viên xã hội tập sự. Sinh viên cần chuyển hóa linh hoạt giữa nhiều vai trò như người kết nối nguồn lực, người biện hộ quyền lợi, người giáo dục kỹ năng và người điều phối can thiệp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm công cụ cơ bản: Mô hình thực hành thực tập công tác xã hội, Công tác xã hội chuyên nghiệp, Kiểm huấn viên cơ sở, và Năng lực hành nghề của sinh viên đại học.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học, nghiên cứu kết hợp hài hòa phương pháp định lượng và định tính:

Nguồn dữ liệu định lượng được thu thập thông qua kỹ thuật trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu 150 sinh viên, phân bổ đồng đều 50 phiếu cho mỗi khóa K60 (năm thứ tư), K61 (năm thứ ba) và K62 (năm thứ hai). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng nhằm thu thập đầy đủ góc nhìn từ sinh viên đang trải nghiệm các học phần thực hành chuyên môn khác nhau.

Nguồn dữ liệu định tính gồm 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung (mỗi nhóm từ 4 đến 6 thành viên đại diện cho sinh viên, giảng viên và kiểm huấn viên) cùng 21 cuộc phỏng vấn sâu. Danh sách phỏng vấn sâu bao gồm: 15 sinh viên thuộc cả 3 khóa, 5 giảng viên hướng dẫn thực hành của khoa, 3 kiểm huấn viên tại Làng Hữu Nghị và 3 kiểm huấn viên tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội Hà Nội. Ngoài ra, phương pháp quan sát tham dự được thực hiện trực tiếp tại các buổi giao ban và các buổi sinh hoạt chuyên môn ở cơ sở.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích định tính là nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ các nhóm khó khăn, đồng thời đào sâu bản chất các nguyên nhân tâm lý, xã hội và thể chế chi phối hoạt động thực tập. Toàn bộ tiến trình điều tra thực địa được triển khai chặt chẽ từ tháng 6/2014 đến tháng 12/2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hoạt động thực hành thực tập của sinh viên:

Thứ nhất, sinh viên đối mặt với áp lực lớn trong thực hành kỹ năng can thiệp chuyên môn. Khoảng 68,0% sinh viên thừa nhận gặp lúng túng khi thực hiện tiến trình can thiệp 7 giai đoạn trong công tác xã hội cá nhân, đặc biệt là khâu thu thập thông tin và chẩn đoán vấn đề của thân chủ. Đối với học phần công tác xã hội nhóm, hơn 54,7% sinh viên gặp trở ngại trong việc xử lý các xung đột nội bộ nhóm và duy trì tính tích cực tham gia của các thành viên.

Thứ hai, rào cản trong thiết lập mối quan hệ xã hội tại địa bàn thực tập diễn ra phổ biến. Có tới 58,7% sinh viên phản ánh khó khăn khi tạo dựng niềm tin ban đầu với đối tượng yếu thế và 64,0% sinh viên gặp trở ngại trong việc trao đổi chuyên môn với cán bộ hướng dẫn tại cơ sở. Nguyên nhân chủ yếu do sự thiếu đồng bộ về phương pháp làm việc giữa nhà trường và trung tâm thực tập.

Thứ ba, sự mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu thời lượng đào tạo. Khung chương trình hiện hành gồm 67 học phần tương đương 130 tín chỉ, nhưng toàn bộ 4 học phần thực hành thực tập chỉ chiếm 17 tín chỉ (13,07% tổng dung lượng). Tổng số giờ thực địa tối đa chỉ đạt 210 tiết, quá khiêm tốn so với chuẩn đào tạo quốc tế như Trường Công tác xã hội Silver thuộc Đại học New York (Mỹ) với 900 tiết thực hành tại cơ sở ngay từ năm học đầu tiên.

Thứ tư, nhu cầu cấp thiết về việc đa dạng hóa mô hình thực tập. Hơn 82,0% sinh viên mong muốn nhà trường áp dụng linh hoạt mô hình thực hành không tập trung và mô hình thực hành theo dự án xã hội, thay vì chỉ áp dụng hình thức thực tập tập trung truyền thống kéo dài từ 4 đến 6 tuần vào cuối kỳ.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được biểu diễn trực quan thông qua Bảng cơ cấu phân bổ tín chỉ đào tạo và Biểu đồ cột thể hiện mức độ kỳ vọng của sinh viên đối với các mô hình thử nghiệm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của những khó khăn trên xuất phát từ sự hạn chế của mạng lưới cơ sở thực hành chuyên nghiệp và năng lực đội ngũ kiểm huấn viên. Báo cáo của UNICEF và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chỉ ra rằng trong số cán bộ tự nhận đã qua đào tạo công tác xã hội, có tới 60,0% chỉ tham gia các khóa tập huấn ngắn hạn, chỉ khoảng 15,0% đến 20,0% có bằng đại học chuyên ngành. Do đó, phần lớn cán bộ cơ sở hướng dẫn sinh viên dựa trên kinh nghiệm hành chính thay vì kỹ năng can thiệp trị liệu chuẩn mực.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Mai Thị Kim Thanh và Tô Phương Oanh khi nhận định các cơ sở bảo trợ xã hội thường giao sinh viên làm công việc chăm sóc sinh hoạt hoặc dạy văn hóa đơn thuần cho trẻ em dưới 18 tuổi, hạn chế cơ hội tiếp cận nhóm thân chủ người trưởng thành hoặc quản lý ca phức tạp. Nghiên cứu khẳng định rằng việc tái cấu trúc chương trình thực hành không chỉ giải quyết nhu cầu nâng cao kỹ năng cho sinh viên Khoa Công tác xã hội Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, mà còn cung cấp luận cứ khoa học quan trọng để hoàn thiện mô hình đào tạo nhân lực an sinh xã hội trên phạm vi toàn quốc.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, tác giả đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Tái cấu trúc khung chương trình đào tạo cử nhân theo hướng chuẩn hóa năng lực hành nghề. Ban Chủ nhiệm Khoa phối hợp cùng Phòng Đào tạo tăng tỷ trọng học phần thực hành từ 17 tín chỉ (210 tiết) lên tối thiểu 30 tín chỉ (tương đương 450 đến 500 tiết thực địa), nâng tỷ lệ thời lượng thực hành lên mức 25,0% toàn khóa học. Lộ trình thực hiện hoàn thành trước quý 3 năm 2015.

Xây dựng mạng lưới 15 cơ sở thực hành vệ tinh đạt chuẩn chuyên môn. Nhà trường cần ký kết văn bản hợp tác chính thức với các cơ sở xã hội như Làng Hữu Nghị, Làng trẻ em SOS, các trung tâm bảo trợ xã hội và hệ thống trường phổ thông trên địa bàn Hà Nội. Mục tiêu bảo đảm 100% sinh viên từ năm thứ hai được phân công địa bàn thực hành cố định với sự giám sát chặt chẽ, triển khai liên tục trong giai đoạn 2015-2016.

Chuẩn hóa chức danh và nâng cao năng lực cho đội ngũ kiểm huấn viên cơ sở. Tổ chức các khóa đào tạo kiểm huấn định kỳ 6 tháng một lần do giảng viên đại học và chuyên gia quốc tế trực tiếp giảng dạy. Mục tiêu phấn đấu đạt trên 80,0% cán bộ hướng dẫn tại cơ sở có chứng chỉ nghiệp vụ kiểm huấn công tác xã hội trước năm 2016.

Triển khai thí điểm đồng bộ 3 mô hình thực hành bổ trợ: mô hình tập trung theo đợt, mô hình thực hành không tập trung (bố trí 1 đến 2 ngày cố định mỗi tuần) và mô hình can thiệp theo dự án phát triển cộng đồng. Giảng viên thực hành và kiểm huấn viên áp dụng bộ công cụ lượng giá 7 giai đoạn để theo dõi tiến độ, phấn đấu nâng tỷ lệ báo cáo thực tập đạt loại giỏi và xuất sắc lên trên 75,0% vào cuối năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

Ban giám hiệu, Phòng đào tạo và Khoa chuyên môn tại các trường đại học, cao đẳng: Sử dụng khung phân tích 130 tín chỉ và mô hình phối hợp 4 chủ thể (Nhà trường, Giảng viên, Cơ sở, Sinh viên) để thiết kế, điều chỉnh chương trình đào tạo cử nhân Công tác xã hội đáp ứng chuẩn kiểm định chất lượng.

Cán bộ quản lý và kiểm huấn viên tại các cơ sở trợ giúp xã hội, trung tâm bảo trợ, tổ chức phi chính phủ: Ứng dụng quy trình tiếp nhận sinh viên 3 giai đoạn và các tiêu chuẩn đánh giá thực địa để tối ưu hóa việc phối hợp nhân lực, nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp thân chủ tại đơn vị.

Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tâm lý học ứng dụng: Tiếp cận phương pháp luận nghiên cứu kết hợp định lượng - định tính, đồng thời sử dụng tài liệu như một cẩm nang hướng dẫn nhận diện và vượt qua các rào cản kỹ năng khi đi thực tế tại cộng đồng.

Các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Tham khảo nguồn số liệu thực chứng về thực trạng đào tạo để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, quy chế chứng chỉ hành nghề và chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới an sinh xã hội theo tinh thần Đề án 32.

Câu hỏi thường gặp

Học phần thực hành của sinh viên ngành Công tác xã hội tại trường hiện nay chiếm bao nhiêu thời lượng? Chương trình đào tạo cử nhân gồm 67 học phần với 130 tín chỉ, trong đó có 4 học phần thực hành thực tập chiếm 17 tín chỉ (khoảng 210 tiết thực địa). Thời lượng này chỉ chiếm khoảng 10,7% tổng số tiết học, còn khá khiêm tốn so với chuẩn quốc tế như tại Đại học New York với 900 tiết thực hành trực tiếp.

Những khó khăn lớn nhất mà sinh viên thường gặp phải trong các kỳ thực tập là gì? Khảo sát chỉ ra 3 nhóm khó khăn chính: kỹ năng vận dụng tiến trình 7 bước can thiệp cá nhân và điều phối nhóm (chiếm 68,0%), trở ngại trong giao tiếp và kết nối với cán bộ kiểm huấn viên cơ sở (chiếm 64,0%), cùng các áp lực tâm lý cá nhân khi tiếp xúc với các ca bệnh lý hoặc hoàn cảnh xã hội phức tạp.

Đội ngũ cán bộ kiểm huấn viên tại các cơ sở thực hành hiện nay có thực trạng ra sao? Phần lớn cán bộ tại cơ sở chưa được đào tạo cử nhân chuyên ngành công tác xã hội (khoảng 60,0% chỉ tham gia các khóa bồi dưỡng ngắn hạn). Do đó, hoạt động hướng dẫn sinh viên chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế, thiếu sự gắn kết chặt chẽ với hệ thống lý thuyết can thiệp khoa học được giảng dạy trong nhà trường.

Luận văn đề xuất những mô hình thực hành thực tập cụ thể nào cho sinh viên? Tác giả đề xuất kết hợp linh hoạt 3 mô hình: mô hình thực hành tập trung tại cơ sở bảo trợ xã hội, mô hình thực hành không tập trung linh hoạt theo tuần, và mô hình thực hành theo dự án can thiệp cộng đồng. Sự phối hợp này giúp hơn 80,0% sinh viên chủ động bố trí thời gian và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề.

Khung lý thuyết nào được sử dụng làm nền tảng phân tích trong toàn bộ công trình? Nghiên cứu tích hợp 3 lý thuyết nền tảng gồm Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow để phân tích động lực người học, Thuyết hệ thống sinh thái để đánh giá mối liên kết đa chiều giữa nhà trường với cơ sở xã hội, và Thuyết vị trí - vai trò nhằm chuẩn hóa hành vi tác nghiệp của nhân viên xã hội.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện thực trạng đào tạo nghề Công tác xã hội tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chỉ ra sự mất cân đối khi thời lượng thực hành thực tế mới chỉ đạt 210 tiết trên tổng số 1.950 tiết toàn khóa.
  • Nhận diện chính xác 3 nhóm khó khăn cốt lõi của sinh viên gồm: kỹ năng chuyên môn can thiệp ca, năng lực thiết lập mối quan hệ xã hội tại cơ sở và các rào cản tâm lý bản thân.
  • Vận dụng sáng tạo hệ thống Thuyết nhu cầu, Thuyết hệ thống sinh thái và Thuyết vai trò xã hội để thiết lập cơ sở khoa học vững chắc cho việc đổi mới phương thức đào tạo thực địa.
  • Đề xuất mô hình thử nghiệm đa dạng gồm hình thức tập trung, linh hoạt và theo dự án xã hội, gắn liền với bản mô tả nhiệm vụ chi tiết của 4 chủ thể liên quan.
  • Xác lập lộ trình giải pháp khả thi nhằm tăng thời lượng thực hành lên 30 tín chỉ và chuẩn hóa trên 80,0% chứng chỉ nghiệp vụ cho kiểm huấn viên trước năm 2016.

Đóng góp quan trọng nhất của công trình là cung cấp cơ sở lý luận và thực chứng vững chắc để chuyển đổi mô hình đào tạo công tác xã hội từ lý thuyết hàn lâm sang thực hành ứng dụng chuẩn mực. Các cơ sở đào tạo đại học và đơn vị trợ giúp xã hội cần nhanh chóng phối hợp thử nghiệm các mô hình đề xuất trong giai đoạn 2015-2016 để nâng cao chất lượng đầu ra cho sinh viên. Hãy chủ động liên hệ và ứng dụng ngay các kết quả nghiên cứu này vào công tác giảng dạy nhằm xây dựng đội ngũ nhân viên xã hội chuyên nghiệp, đóng góp tích cực vào sự nghiệp an sinh và công bằng xã hội tại Việt Nam.