Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống giáo dục phổ thông, thư viện trường học giữ vai trò là trung tâm sinh hoạt văn hóa và khoa học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cũng như xây dựng nếp sống văn hóa đọc cho học sinh. Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và sự xâm lấn của các hình thức giải trí hiện đại, nhu cầu đọc sách truyền thống của học sinh tiểu học có chiều hướng bão hòa. Thị trường xuất bản phẩm phong phú nhưng xuất hiện nhiều ấn phẩm chỉ phục vụ mục đích giải trí tức thời, hạn chế về tính thẩm mỹ và giáo dục.
Nhằm đổi mới hoạt động thư viện, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp cùng Hội Thư viện Việt Nam đã phát động phong trào thi đua "Xây dựng thư viện thân thiện" trên phạm vi toàn quốc. Chủ trương này gắn liền với việc thực hiện Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/07/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về phát động phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Mô hình thư viện thân thiện ban đầu được thí điểm tại Việt Nam thông qua Dự án "Cộng đồng dân tộc vì trẻ em" tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai do Tổ chức Trẻ em và Phát triển (E&D) hỗ trợ giai đoạn 2004–2007, sau đó được Dự án Việt - Bỉ tiếp tục nhân rộng tại 42 trường thực hành thuộc 14 tỉnh miền núi phía Bắc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thư viện trường học và mô hình thư viện trường học thân thiện.
- Khảo sát thực trạng tổ chức, cơ sở vật chất, vốn tài liệu và tình hình triển khai mô hình thư viện thân thiện tại một số trường tiểu học trên địa bàn các quận nội thành Hà Nội.
- Đưa ra nhận xét, đánh giá về những thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện, mở rộng mô hình này.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình thư viện trường học thân thiện tại các trường tiểu học.
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát thực tế tại 03 trường tiểu học đại diện cho các quận nội thành Hà Nội với các mức danh hiệu thư viện khác nhau:
- Trường Tiểu học Gia Thụy (Quận Long Biên) – Thư viện đạt danh hiệu "Thư viện xuất sắc".
- Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt (Quận Đống Đa) – Thư viện đạt danh hiệu "Thư viện tiên tiến".
- Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (Quận Hà Đông) – Thư viện đạt danh hiệu "Thư viện chuẩn".
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên khung lý thuyết về thư viện học truyền thống kết hợp với cách tiếp cận lấy trẻ em làm trung tâm theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em. Mô hình thư viện trường học thân thiện được định nghĩa là không gian học tập mở, tôn trọng các quyền cơ bản của học sinh, bao gồm:
- Quyền tiếp cận thông tin bổ ích: Cung cấp tài liệu học tập, văn hóa và giải trí lành mạnh, khơi gợi sự tò mò và thói quen đọc sách ngay từ những năm đầu đi học.
- Quyền tham gia của trẻ em: Tạo cơ hội cho học sinh bày tỏ ý kiến, tham gia quản lý, bài trí, lựa chọn sách và tổ chức các hoạt động thư viện.
- Quyền phát triển với môi trường học tập tích cực: Hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, kích thích tư duy sáng tạo độc lập và lưu giữ bản sắc văn hóa địa phương.
Về mặt hình thức tổ chức, mô hình bao gồm: thư viện đa chức năng (chia thành các góc: góc đọc, góc viết, góc nghệ thuật, góc văn hóa địa phương, góc trò chơi), thư viện góc lớp, thư viện ngoài trời và thư viện lưu động. Về nghiệp vụ, mô hình khuyến khích phân loại tài liệu theo mã màu thay cho các khung phân loại học thuật phức tạp, kết hợp trang thiết bị bàn ghế mài nhẵn, góc bo tròn hoặc sử dụng thảm sàn nhằm tạo sự an toàn và thoải mái.
Các phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu lý luận.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát học sinh tại 3 trường tiểu học với quy mô 100 phiếu/trường, tổng cộng phát ra 300 phiếu, thu về 300 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ 100%).
- Phương pháp thống kê toán học để xử lý dữ liệu khảo sát.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu giữa các đơn vị khảo sát.
- Phương pháp quan sát và tổng kết thực tiễn hoạt động thư viện.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về Thư viện trường học và mô hình thư viện trường học thân thiện
Chương này tập trung làm rõ khái niệm, vai trò, nhiệm vụ của thư viện trường học đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Tác giả trình bày lịch sử hình thành mô hình thư viện thân thiện tại Việt Nam từ dự án thí điểm Bắc Hà (Lào Cai) đến dự án Việt - Bỉ.
Chương 1 xác định các tiêu chí xây dựng thư viện thân thiện, bao gồm: môi trường sạch đẹp, trang thiết bị vừa tầm vóc học sinh, thủ tục cấp thẻ và mượn trả đơn giản, ứng dụng công nghệ thông tin, đội ngũ cán bộ có chuyên môn và nhiệt huyết. Đặc biệt, tác giả phân tích chi tiết quy trình phân loại sách theo bảng mã màu nhằm giúp thủ thư tiết kiệm thời gian xếp giá và hỗ trợ học sinh tiểu học tự tìm tài liệu một cách trực quan.
Chương 2: Tình hình triển khai mô hình thư viện trường học thân thiện tại một số trường Tiểu học trên địa bàn các quận nội thành Hà Nội
Chương 2 trình bày kết quả khảo sát thực trạng cơ sở vật chất, vốn tài liệu, nhân lực và các hoạt động phục vụ tại 03 trường tiểu học:
1. Trường Tiểu học Gia Thụy (Quận Long Biên):
- Cơ sở vật chất: Tổng diện tích 150 m² (gồm phòng đọc học sinh và phòng giáo viên riêng biệt) cùng kho sách 25 m²; trang bị hơn 50 chỗ ngồi cho học sinh, 28 chỗ ngồi cho giáo viên; 5 máy tính nối mạng và 1 bộ thiết bị nghe nhìn.
- Vốn tài liệu: Có 535 đầu sách với 6.190 bản (1.052 bản sách giáo khoa, 515 bản sách nghiệp vụ, sách tham khảo chiếm số lượng lớn nhất). Đầu năm học 2010–2011, thư viện bổ sung 3 đợt sách, tiếp nhận 832 cuốn ủng hộ từ học sinh và 70 cuốn từ giáo viên.
- Nhân lực: 1 cán bộ chuyên trách có trình độ đại học ngành Thông tin - Thư viện, có tổ cộng tác viên 7 người.
- Nghiệp vụ: Áp dụng phân loại DDC, phục vụ đọc tại chỗ theo tiết học. Hàng tuần phục vụ 667 lượt giáo viên và 21.861 lượt học sinh; đã tổ chức 8 lần triển lãm sách.
- Khảo sát học sinh (n=100): Yêu thích truyện tranh (61%), sách tìm hiểu khoa học (17%), sách khác (13%), sách tham khảo (6%), sách giáo khoa (3%). Về nhu cầu hình thức tổ chức: thư viện lưu động (28%), thư viện ngoài trời (25%), thư viện góc lớp (24%), thư viện đa năng (16%), ý kiến khác (7%). Tỷ lệ tự tìm sách đạt 63%, nhờ thủ thư tìm giúp chiếm 37%. Có 83% học sinh tham gia hoạt động thư viện (tuyên truyền giới thiệu sách: 92%, vẽ tranh theo sách: 4%, kể chuyện theo sách: 4%).
2. Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt (Quận Đống Đa):
- Cơ sở vật chất: Tiền thân thành lập năm 1916 (trường Pierre Pasquier), đổi tên năm 1959. Diện tích phòng đọc 120 m² và 60 m² không gian ngoài trời; 40 chỗ ngồi học sinh, 30 chỗ ngồi giáo viên (có trải thảm); 5 máy tính nối mạng (1 quản lý, 2 cho giáo viên, 2 cho học sinh), tivi, đầu đĩa, máy chiếu và hơn 20 giá sách (có giá xoay hình cây nấm).
- Vốn tài liệu: Gần 10.000 bản (1.000 bản sách giáo khoa, 2.500 bản sách tham khảo, 2.500 bản truyện tranh, sách nghiệp vụ...).
- Nhân lực và nghiệp vụ: 1 cán bộ kiêm nhiệm. Áp dụng phân loại sách theo bảng mã màu; phục vụ đọc tại chỗ và cho học sinh lớp lớn mượn về nhà; quản lý qua sổ sách; mở cửa tiết 1–4 các buổi chiều. Phục vụ khoảng 7.000 lượt bạn đọc/tháng.
- Khảo sát học sinh (n=100): Yêu thích truyện tranh (36%), sách tìm hiểu khoa học (26%), sách khác (16%), sách tham khảo (12%), sách giáo khoa (10%). Nhu cầu mô hình: thư viện ngoài trời (50%), thư viện đa năng (20%), thư viện lưu động (16%), thư viện lớp học (14%). Có 100% học sinh tham gia các hoạt động tuyên truyền giới thiệu sách và vẽ tranh theo sách.
3. Trường Tiểu học Nguyễn Trãi (Quận Hà Đông):
- Cơ sở vật chất: Diện tích 82 m², trang bị 3 máy tính nối mạng, 12 giá sách, sử dụng thảm thay bàn ghế.
- Vốn tài liệu: Sách tham khảo (>2.000 cuốn), sách giáo khoa (2.027 cuốn), sách nghiệp vụ (>700 cuốn), truyện tranh (>3.000 cuốn).
- Nhân lực và nghiệp vụ: 1 cán bộ kiêm nhiệm trình độ sơ cấp. Phân loại theo khung DDC, phục vụ đọc tại chỗ từ 14h00–16h30 các ngày thứ 2 đến thứ 6.
- Khảo sát học sinh (n=100): Yêu thích truyện tranh (86%), sách tìm hiểu khoa học (10%), loại khác (4%), sách giáo khoa và sách tham khảo (0%). Nhu cầu mô hình: thư viện ngoài trời (38%), thư viện lưu động (24%), thư viện đa năng (22%), thư viện lớp học (16%). Tỷ lệ nhờ thủ thư tìm sách chiếm 63%, tự tìm chiếm 37%. Có 70% học sinh tham gia hoạt động (tuyên truyền sách: 46%, kể chuyện: 32%, vẽ tranh: 10%, khác: 12%).
| Tiêu chí so sánh |
TH Gia Thụy (Long Biên) |
TH Lý Thường Kiệt (Đống Đa) |
TH Nguyễn Trãi (Hà Đông) |
| Danh hiệu thư viện |
Thư viện xuất sắc |
Thư viện tiên tiến |
Thư viện chuẩn |
| Diện tích phục vụ |
150 m² (+25 m² kho) |
120 m² (+60 m² sân trường) |
82 m² |
| Trang thiết bị máy tính |
5 máy tính nối mạng |
5 máy tính nối mạng |
3 máy tính nối mạng |
| Quy mô vốn tài liệu |
535 đầu sách (6.190 bản) |
Gần 10.000 bản |
Hơn 7.700 bản |
| Trình độ cán bộ thư viện |
Đại học (chuyên trách) |
Kiêm nhiệm |
Sơ cấp (kiêm nhiệm) |
| Phương pháp phân loại |
Khung phân loại DDC |
Bảng phân loại mã màu |
Khung phân loại DDC |
| Hình thức mượn trả |
Đọc tại chỗ theo lớp |
Đọc tại chỗ + Mượn về nhà |
Đọc tại chỗ theo lớp |
| Hình thức mô hình áp dụng |
Đa năng, góc lớp, lưu động |
Ngoài trời, lưu động |
Giỏ sách lưu động |
| Chỉ số khảo sát học sinh (n=100/trường) |
TH Gia Thụy |
TH Lý Thường Kiệt |
TH Nguyễn Trãi |
| Sở thích: Truyện tranh |
61% |
36% |
86% |
| Sở thích: Sách khoa học |
17% |
26% |
10% |
| Nhu cầu: Thư viện ngoài trời |
25% |
50% |
38% |
| Nhu cầu: Thư viện lưu động |
28% |
16% |
24% |
| Tần suất đọc thường xuyên |
71% |
80% |
10% |
| Tần suất đọc thỉnh thoảng |
29% |
20% |
90% |
| Tần suất không bao giờ đến |
0% |
0% |
0% |
| Đánh giá thủ thư thân thiện |
92% |
100% |
80% |
Bảng phân loại sách theo mã màu được triển khai thực tế tại Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt được ghi nhận như sau:
| Mã màu quy định |
Chủ đề tài liệu tương ứng |
| Màu trắng |
Tủ sách đạo đức |
| Màu cam |
Khoa học khám phá |
| Màu vàng |
Lịch sử |
| Màu tím |
Danh nhân |
| Màu hồng |
Dân gian |
| Màu đỏ |
Văn học nước ngoài |
| Màu xanh lá cây |
Văn học Việt Nam |
| Màu xanh da trời |
Truyện cổ tích |
| Màu nâu |
Bác Hồ kính yêu |
Chương 3: Nhận xét, đề xuất giải pháp hoàn thiện và mở rộng việc triển khai mô hình thư viện trường học thân thiện trên địa bàn Hà Nội
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đánh giá tổng thể các mặt thuận lợi và khó khăn:
- Thuận lợi: Phong trào thi đua của ngành giáo dục tạo hành lang pháp lý thuận lợi; bước đầu các trường đã cải tạo không gian, trang bị thảm ngồi, tủ sách mở và tổ chức các hoạt động ngoại khóa thu hút học sinh.
- Khó khăn và tồn tại: Vốn tài liệu còn thiên lệch về truyện tranh giải trí thuần túy; thiếu tài liệu khoa học và sách ngoại ngữ; 2/3 trường khảo sát vẫn dùng cán bộ kiêm nhiệm; việc tin học hóa chỉ dừng ở mức quản lý cơ bản trên máy tính, công tác mượn trả vẫn ghi chép sổ tay; học sinh chưa được tham gia vào quy trình chọn sách hay xây dựng nội quy; một số giáo viên còn chiếm dụng thời gian tiết thư viện để giao bài tập trên lớp (ghi nhận tại TH Nguyễn Trãi).
Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:
- Kiện toàn và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ thư viện trường học, giảm thiểu việc bố trí cán bộ kiêm nhiệm không đúng chuyên ngành.
- Đổi mới công tác bổ sung vốn tài liệu, lấy ý kiến đóng góp từ học sinh và giáo viên bộ môn; tăng cường sách tìm hiểu khoa học và tài liệu song ngữ.
- Chuyển đổi phương thức tổ chức không gian: áp dụng bảng mã màu đồng bộ, thiết lập các góc hoạt động đa năng và mở rộng mô hình thư viện ngoài trời, thư viện lưu động.
- Tăng cường quyền tham gia thực chất của học sinh trong việc quản lý, giữ gìn vệ sinh và tổ chức hoạt động giới thiệu sách.
- Đẩy mạnh ứng dụng phần mềm quản lý thư viện và liên kết luân chuyển sách giữa các trường trên địa bàn.
Kết quả và đóng góp
Về mặt dữ liệu thực tiễn, đề tài cung cấp hệ thống số liệu khảo sát định lượng chi tiết về hoạt động thư viện tại 3 trường tiểu học đại diện cho 3 phân hạng thư viện tại Hà Nội. Kết quả chỉ ra sự phân hóa rõ nét:
- Nơi có cán bộ chuyên trách và cơ sở vật chất đồng bộ (TH Gia Thụy) hoặc áp dụng mô hình thân thiện ngoài trời kết hợp mã màu (TH Lý Thường Kiệt) đạt tỷ lệ học sinh đọc thường xuyên cao (71% - 80%).
- Nơi chỉ áp dụng hình thức giỏ sách đơn điệu và cán bộ kiêm nhiệm sơ cấp (TH Nguyễn Trãi) có tỷ lệ học sinh đọc thường xuyên rất thấp (10%), trong khi tỷ lệ đọc thỉnh thoảng chiếm 90%.
Về mặt học thuật và ứng dụng, nghiên cứu đóng góp:
- Hệ thống hóa các tiêu chí và mô hình tổ chức không gian thân thiện phù hợp với tâm sinh lý học sinh tiểu học.
- Đưa ra minh chứng thực tế về hiệu quả của phương pháp phân loại sách bằng mã màu trong việc hỗ trợ học sinh tự tìm kiếm tài liệu.
- Cung cấp mô hình tham khảo cụ thể về bài trí nội thất (kết hợp thảm ngồi, giá sách hình nấm, biển nhắc nhở trực quan) cho các trường tiểu học đô thị.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế do điều kiện thực hiện:
- Phạm vi khảo sát giới hạn tại 03 trường tiểu học thuộc khu vực nội thành Hà Nội, chưa bao quát được các trường tiểu học tại khu vực ngoại thành hoặc các huyện khó khăn.
- Mẫu khảo sát dừng ở mức 100 học sinh/trường, tập trung chủ yếu vào đối tượng học sinh mà chưa có phiếu điều tra định lượng riêng biệt dành cho giáo viên và phụ huynh học sinh.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên diện rộng tại các trường ngoại thành Hà Nội, hoặc nghiên cứu sự thích ứng của mô hình thư viện thân thiện ở cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Khoa học Thông tin - Thư viện, Quản lý Giáo dục và Sư phạm Tiểu học khi nghiên cứu về phát triển văn hóa đọc học đường.
- Cán bộ quản lý giáo dục, hiệu trưởng và nhân viên thư viện tại các trường tiểu học đang tìm kiếm giải pháp chuyển đổi từ thư viện truyền thống sang mô hình thư viện thân thiện, tối ưu hóa không gian phòng đọc và khuôn viên sân trường.
- Phần đáng tham khảo nhất là bảng phân loại sách theo mã màu (Chương 2) và quy cách tổ chức các góc chức năng trong thư viện đa năng (Chương 1).
Câu hỏi thường gặp
1. Thư viện trường học thân thiện đầu tiên tại Việt Nam được xây dựng ở đâu và do tổ chức nào hỗ trợ?
Thư viện trường học thân thiện đầu tiên tại Việt Nam thuộc dự án "Cộng đồng dân tộc vì trẻ em", được xây dựng tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai do Tổ chức Trẻ em và Phát triển (E&D) hỗ trợ trong giai đoạn 2004–2007.
2. Điểm khác biệt trong phương pháp phân loại tài liệu tại Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt so với hai trường còn lại là gì?
Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt áp dụng Bảng phân loại sách theo mã màu (với 9 màu tương ứng 9 chủ đề như đạo đức, lịch sử, văn học, truyện cổ tích...), trong khi Trường Tiểu học Gia Thụy và Trường Tiểu học Nguyễn Trãi vẫn sử dụng khung phân loại DDC truyền thống.
3. Tỷ lệ học sinh yêu thích đọc truyện tranh tại ba trường được khảo sát là bao nhiêu?
Tỷ lệ học sinh yêu thích truyện tranh đạt cao nhất tại Trường Tiểu học Nguyễn Trãi với 86%, tiếp theo là Trường Tiểu học Gia Thụy với 61%, và thấp nhất tại Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt với 36%.
4. Không gian thư viện ngoài trời tại Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt có diện tích bao nhiêu và tỷ lệ học sinh có nhu cầu với loại hình này như thế nào?
Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt bố trí 60 m² diện tích sân trường để làm thư viện ngoài trời có mái che và ghế ngồi; kết quả khảo sát cho thấy có 50% học sinh tại trường này mong muốn sử dụng loại hình thư viện ngoài trời.
5. Cơ cấu nhân sự thư viện tại ba trường tiểu học khảo sát có sự khác nhau như thế nào?
Trường Tiểu học Gia Thụy có 1 cán bộ chuyên trách trình độ đại học ngành thông tin - thư viện cùng tổ cộng tác viên 7 người; Trường Tiểu học Lý Thường Kiệt có 1 cán bộ kiêm nhiệm; Trường Tiểu học Nguyễn Trãi có 1 cán bộ kiêm nhiệm trình độ sơ cấp.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Ngọc Anh đã phản ánh toàn diện bức tranh triển khai mô hình thư viện trường học thân thiện tại 3 trường tiểu học nội thành Hà Nội. Nghiên cứu khẳng định sự chuyển đổi sang mô hình thân thiện lấy học sinh làm trung tâm giúp nâng cao rõ rệt tần suất đọc sách và sự tham gia chủ động của học sinh. Các phát hiện thực tế cùng hệ thống bảng phân loại mã màu trong tài liệu là cơ sở thực tiễn hữu ích cho việc nhân rộng mô hình thư viện thân thiện trong hệ thống giáo dục phổ thông.