Chương 1 – TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VÀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG CÁC KCN VIỆT NAM Cùng với việc thu thập, tổng hợp thông tin từ các Báo cáo, Đề tài nghiên cứu về vấn đề môi trường các KCN ở Việt Nam, tác giả Luận văn đã tiến hành điều tra thực tế thông qua việc đi khảo sát và phát phiếu điều tra thu thập thông tin đối với 35 KCN trên địa bàn các tỉnh thuộc vùng KTTĐ Bắc bộ. Kết quả thu được 27 KCN có thông tin thu thập được về hiện trạng hoạt động, nguồn thải (nước thải, chất thải rắn) và tổ chức quản lý môi trường của KCN. Dưới đây, sẽ là một số tổng hợp, đánh giá về tình hình phát triển và hiện trạng môi trường các KCN ở Việt Nam nói chung và số liệu cụ thể đối với các KCN thuộc vùng KTTĐ Bắc bộ nói riêng. Tổng quan về quá trình hình thành và phát triển các KCN của Việt Nam Tính từ năm 1991 đến hết tháng 12/2008, trải qua 18 năm xây dựng và phát triển, Việt Nam đã thành lập được 223 KCN với tổng diện tích tự nhiên đạt 57.264 ha, phân bố trên 56/63 Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương.
Trong đó, diện tích đất sử dụng cho phát triển công nghiệp có thể cho thuê theo quy hoạch đạt gần 40.000 ha, chiếm khoảng 65% diện tích đất quy hoạch các KCN. Số lượng KCN (khu) Diện tích KCN (ha) 250 60.000 Số lượng KCN 57.264 223 Diện tích KCN 50. Tình hình phát triển KCN giai đoạn 1991 - 2008 Nguồn: [7] Trong số 223 KCN hiện nay của cả nước, có 171 KCN đã đi vào hoạt động, 52 KCN đang trong quá trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật, chủ yếu là các KCN mới thành Mạc Thị Minh 20 K16 Cao học Môi Trà trường Luận văn Thạc sỹ khoa học lập trong những năm gần đây. Tính chung cho toàn bộ các KCN cả nước thì tỷ lệ lấp đầy chỉ đạt 46% với 17.107 ha đất công nghiệp đã cho thuê.
Năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/2008/NĐ-CP quy định về thành lập, hoạt động, chính sách và quản lý nhà nước đối với KCN, KCX và KKT, trong đó quy định thống nhất hoạt động của KCN trên các lĩnh vực theo hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý cho Ban quản lý các KCN. Nghị định đã góp phần đổi mới sâu sắc về thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh cùng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Công tác quản lý Nhà nước về KCN cũng như bản thân hoạt động của các KCN đã có những điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, năng lực, chương trình hoạt động để thích nghi với điều kiện mới. Tuy nhiên, quá trình phát triển KCN cũng đã nảy sinh một số vấn đề như sự gia tăng về số lượng không tỷ lệ thuận với tỷ lệ lấp đầy KCN.
Qua khảo sát ở một số KCN, cho thấy, các KCN do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, thuận tiện, nhưng tốc độ lấp đầy chậm, không thu hút được các doanh nghiệp vừa và nhỏ, bởi suất đầu tư cao, cho nên các doanh nghiệp Việt Nam với tài chính có hạn rất khó thuê ở các KCN này. Các KCN do UBND cấp tỉnh quyết định thành lập và hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thì có tốc độ lấp đầy nhanh nhưng không thể thành lập nhiều do ngân sách địa phương hạn hẹp. Các KCN khác cho các doanh nghiệp sản xuất thuê đất trước khi xây dựng hạ tầng kỹ thuật nên suất đầu tư thấp, có tốc độ triển khai xây dựng và lấp đầy nhanh nhưng lại gặp khó khăn trong quản lý môi trường, hệ thống hạ tầng kỹ thuật không đồng bộ. Số liệu về số lượng KCN thành lập mới và mở rộng năm 2008 cũng như những năm trước cho thấy, mặc dù sự phân bố KCN đã được điều chỉnh theo hướng tạo điều kiện cho một số địa bàn đặc biệt khó khăn ở Trung du miền núi phía Bắc (Yên Bái, Tuyên Quang, Hòa Bình, Bắc Kạn.
Đến cuối tháng 12/2008, với 167 KCN, tổng diện tích đất tự nhiên đạt 46.825 ha, các KCN thuộc 4 vùng KTTĐ chiếm Mạc Thị Minh 21 K16 Cao học Môi Trà trường Luận văn Thạc sỹ khoa học tới 74,9 % tổng số KCN và 81,8 % tổng diện tích đất tự nhiên các KCN cả nước [7]. Đồng Nai và Bình Dương là những địa phương có số lượng KCN lớn nhất trong cả nước. Vùng KTTĐ Bắc bộ có 49 KCN với diện tích khoảng 10.114 ha, chiếm khoảng 22% tổng số KCN trên toàn quốc [2]. Ngày 21/8/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1107/2006/QĐ-TTg [4] phê duyệt Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
Quy hoạch đã xác định sẽ hình thành hệ thống các KCN chủ đạo có vai trò dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia, đồng thời hình thành các KCN có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp. Kế hoạch đến năm 2015 - Đầu tư đồng bộ để hoàn thiện các KCN hiện có, thành lập mới một cách có chọn lọc các KCN với tổng diện tích tăng thêm khoảng 20.000 ha; nâng tổng diện tích các KCN đến năm 2015 khoảng 65. Phấn đấu đạt tỷ lệ lấp đầy các KCN bình quân trên toàn quốc khoảng trên 60%. - Xây dựng các công trình xử lý chất thải công nghiệp tập trung quy mô lớn ở những khu vực tập trung các KCN tại các vùng KTTĐ.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vào các KCN, phấn đấu thu hút thêm khoảng 6.800 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng trên 36 - 39 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư thực hiện khoảng 50%. Định hướng đến năm 2020 - Quản lý tốt và có quy hoạch sử dụng hợp lý diện tích đất dự trữ cho xây dựng KCN. - Hoàn thiện về cơ bản mạng lưới KCN trên toàn lãnh thổ với tổng diện tích các KCN đạt khoảng 80. - Quản lý, chuyển đổi cơ cấu đầu tư phát triển các KCN đã được thành lập theo hướng đồng bộ hoá.
Mạc Thị Minh 22 K16 Cao học Môi Trà trường Luận văn Thạc sỹ khoa học Số KCN (khu) 35 31 Số lượng KCN ưu tiên thành lập mới theo quy hoạch 30 Số lượng KCN đã thành lập mới giai đoạn 2006-2008 25 25 23 23 20 19 16 17 14 15 10 10 5 5 5 1 0 Đồng bằng Trung du miền Bắc Trung Bộ Tây Nguyên Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Hồng núi phía Bắc và duyên hải sông Cửu Long miền Trung Biểu đồ 1. Số KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới giai đoạn 2006 - 2015 theo vùng kinh tế và so sánh với số KCN đã thành lập giai đoạn 2006 – 2008 Nguồn: [1] Trong giai đoạn 2006-2008, các KCN được thành lập mới vẫn chủ yếu tập trung ở vùng ĐBSH, Đông Nam Bộ và ĐBSCL (Biểu đồ 1. Trung du miền núi phía Bắc trong giai đoạn này cũng có số lượng KCN thành lập mới khá nhiều đã đáp ứng yêu cầu phát triển các KCN tại vùng có điều kiện khó khăn. Tuy nhiên, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung cùng với Tây Nguyên vẫn là hai vùng có số lượng KCN thành lập mới không nhiều.
Điều này đã bộc lộ rõ sự phát triển KCN không cân đối giữa các vùng, miền trên cả nước. Theo các báo cáo thống kê cho thấy, các chỉ tiêu về phát triển KCN như tăng số lượng và diện tích KCN đều đạt và vượt kế hoạch. Tuy nhiên, chỉ tiêu liên quan đến công tác BVMT đó là 70% các KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn thì còn xa so với con số thực tế (đến cuối năm 2009 mới có 43,3 % các KCN đã đi vào hoạt động có công trình xử lý nước thải tập trung, nhiều công trình trong số đó còn chưa xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn). Điều này đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng của chính các KCN, sự quản lý sát sao và sự hỗ trợ của các cấp để có thể đạt được chỉ tiêu này.
Tổng quan về hiện trạng môi trường các KCN 1. Nước thải Thành phần nước thải các KCN phụ thuộc vào ngành nghề của các cơ sở sản xuất trong KCN (Bảng 1. Mạc Thị Minh 23 K16 Cao học Môi Trà trường Luận văn Thạc sỹ khoa học Bảng 1. Đặc trưng về thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp (trước xử lý) Ngành công nghiệp Chất ô nhiễm chính Chất ô nhiễm phụ Chế biến đồ hộp, thủy sản, rau BOD, COD, pH, SS Màu, tổng P, N tổng quả, đông lạnh Chế biến nước uống có cồn, BOD, pH, SS, N, P TDS, màu, độ đục bia, rượu Chế biến thịt BOD, pH, SS, độ đục NH4+, P, màu Sản xuất bột ngọt BOD, SS, pH, NH4 Độ đục, NO -, PO 3- 3 4 Cơ khí COD, dầu mỡ, SS, CN-, Cr, SS, Zn, Pb, Cd Ni Thuộc da BOD5, COD, SS, Cr, NH 4+, N, P, tổng Coliform dầu mỡ, phenol, sunfua Dệt nhuộm SS, BOD, kim loại nặng, dầu Màu, độ đục mỡ Phân hóa học pH, độ axít, F, kim loại nặng Màu, SS, dầu mỡ, N, P Sản xuất phân hóa học NH +, NO -, urê pH, hợp chất hữu cơ 4 3 Sản xuất hóa chất hữu cơ, vô cơ pH, tổng chất rắn, SS, Cl-, COD, phenol, F, Silicat, kim SO42-, pH loại nặng Sản xuất giấy SS, BOD, COD, phenol, pH, độ đục, độ màu lignin, tanin Nguồn: [10] Thành phần nước thải của các KCN chủ yếu bao gồm các chất lơ lửng (SS), chất hữu cơ (thể hiện qua hàm lượng BOD, COD), các chất dinh dưỡng (biểu hiện bằng hàm lượng tổng Nitơ và tổng Phốtpho) và kim loại nặng (Bảng 1.
Ước tính tổng lượng nước thải và thải lượng các chất ô nhiễm trong nước thải từ các KCN thuộc các tỉnh của vùng KTTĐ Bắc bộ năm 2009 Lượng Tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày) TT Địa phương nước thải (m3/ngày) TSS BOD COD Tổng N Tổng P 1 Hà Nội 36.926 2 Hải Phòng 14.122 Mạc Thị Minh 24 K16 Cao học Môi Trà trường Luận văn Thạc sỹ khoa học Lượng Tổng lượng các chất ô nhiễm (kg/ngày) TT Địa phương nước thải (m3/ngày) TSS BOD COD Tổng N Tổng P 3 Quảng Ninh 8. Chất lượng nước thải đầu ra của các KCN phụ thuộc rất nhiều vào việc nước thải có được xử lý hay không.