CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ DỰ ÁN DTPT VÀ CÁC MÔ HÌNH QUAN LÝ DỰ ÁN DTPT SỬ DỤNG NGUON VON NSNN 1. Đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước 1. Những khái niệm chung Von nhà nước: Vốn nhà nước là vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và vốn đầu tư khác của nhà nước /29, khoản 10, diéu 3/. Đầu tư phát triển: Xét về bản chất chính là đầu tư tài sản vật chất và sức lao động trong đó người có tiền bỏ tiền ra dé tiến hành các hoạt động nhằm tăng thêm hoặc tạo ra tài sản mới cho minh đồng thời cho cả nền kinh tế, từ đó làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động sản xuất khác, là điều kiện chủ yếu tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội.
Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi đưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì hoặc tăng thêm tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại, bố sung tài sản và tăng thêm tiềm lực của mọi lĩnh vực hoạt động kinh té - xã hội của đất nước /23, tr. Đầu tư phát trién băng nguồn vốn ngân sách nhà nước là việc sử dụng phần vốn ngân sách Nhà nước, vốn vay nước ngoài của Chính phủ, vốn tài trợ phát triển chính thức của nước ngoài cho Chỉnh phủ và Chính quyền các cấp (ODF), vốn tín dụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh và vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước dé dau tư vào các lĩnh vực nhằm xây dựng và phat triển một nền tảng cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cầu hạ tầng kinh tế - xã hội cho nền kinh tế quốc dân. Đầu tư phát triển bằng vốn nhà nước chủ yếu được tiến hành theo kế hoạch nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ. Căn cứ vào khả năng thu hồi vốn trực tiếp của dự án đầu tư và tính chất nguồn vốn định ra ba mô hình đầu tư phát triển đó là: Cấp phát đầu tư, tín dụng đầu tư và doanh nghiệp tự dau tu.
- Mô hình cấp phát dau tw: Dành cho các dự án đầu tư không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp thuộc các lĩnh vực như kết cấu ha tầng kinh tế - xã hội, các dự án giao thông, thuỷ lợi, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ, rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các trạm thú y, động thực vật; Nghiên cứu giỗng mới và cải tạo giỗng; Các dự án xây dựng công trình, dự án quản lý Nhà nước, khoa học kỹ thuật; dự án bảo vệ môi trường sinh thái; dự án an ninh quốc phòng, các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, góp vốn cổ phan liên doanh bằng nguồn vốn đầu tư phát triển cơ bản của Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật. - Mô hình tín dụng đâu tư: Dành cho các dự án đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tạo việc làm có khả năng thu hồi von; Các dự án đầu tư cho một số ngành kinh tế quan trọng của Nhà nước trong từng thời kỳ (như điện, xi măng, sắt thép.); Các dự án đầu tư của ngành đảm bảo hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn. Các nhu cầu vốn này một phần được ngân sách Nhà nước bồ trí theo chính sách từng thời kỳ, số còn lại là nguồn vốn tin dụng đầu tư của các ngân hàng quốc doanh /5, tr. Nhu vậy có thé hiểu dự án DTPT sử dung vốn ngân sách nha nước không chỉ là những dự án sử dụng toàn bộ vốn nha nước mà có thé là những dự án sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn, trong đó có nguồn gốc nhà nước chiếm trên 30% trở lên.
Đặc điểm dự án đầu tw phát triển từ nguôn von NSNN Dự án ĐTPT sử dụng vốn nhà nước chịu sự ràng buộc chặt chẽ của các quy định về quản lý ngân sách, quản lý đầu tư, quản lý chi phí như: Luật Ngân sách nhà nước, các Nghị định của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư, quan lý chi phí dự án đầu tư. Các quy định này sẽ chi phối đến việc cấp phát vốn; lập, thấm định, phê duyệt dự án; tổng mức đầu tư, dự toán; lựa chọn nhà thầu; ký kết và thực hiện hợp đồng: thanh quyết toán vốn đầu tư; giám sát và đánh giá đầu tư. Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư đối với các dự án ĐTPT sử dụng vốn ngân sách nhà nước, từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chủ đầu tư không phải là chủ sở hữu vốn, chủ đầu tư được cơ quan quan lý nhà nước có thẩm quyền giao quản lý, sử dung vốn.
Chủ đầu tư dự án ĐTPT sử dụng vốn ngân sách nhà nước được quy định chặt chẽ tùy thuộc từng nguồn vốn cụ thê. Dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án đầu tư và phải phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư, chủ đầu tư là cơ quan cấp Bộ, Ủy ban nhân dân tinh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước; Dự án do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan cấp Bộ, Chủ tịch UBND các cấp quyết định đầu tư thì chủ đầu tư là đơn vị quản lý, sử dụng công trình. Thâm quyền quyết định đầu tư các dự án ĐTPT sử dụng vốn ngân sách nhà nước chịu sự thâm định của người quyết định đầu tư.
Dự án DTPT sử dung vốn ngân sách nhà 10 nước, khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán làm vượt tổng mức đầu tư thì chủ đầu tư phải báo cáo người quyết định đầu tư dé xem xét, quyết định [9, điều 3]. Dự án ĐTPT sử dụng vốn ngân sách nhà nước phải tuân theo các quy định về quản lý chi phí dự án đầu tư, quy định về lựa chọn nhà thầu, quy định về thanh quyết toán vốn dau tư do cơ quan quản lý nhà nước thâm quyền ban hành. Dự án DTPT sử dụng nguồn vốn nhà nước trên 30% tổng mức đầu tư thì phải được giám sát, đánh giá đầu tư chặt chẽ hơn các dự án sử dụng các nguồn vốn hợp pháp khác. Vai trò của đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước Đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước là bộ phận cấu thành trong toàn bộ vốn dau tư trong toàn xã hội, mặc dù thường chiếm tỷ trọng không cao, song đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách Nha nước có vai trò quan trọng đặc biệt thể hiện trên các mặt sau: Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ kinh tế quan trọng dé Nhà nước trực tiếp tác động đến nền kinh tế, xã hội, điều tiết vĩ mô, thúc đây tăng trưởng kinh tế, giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.
Bằng việc cung cấp những dịch vụ công cộng như hạ tầng kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng mà các thành phần kinh tế khác không muốn, không thể hoặc không được đầu tư; Các dự án đầu tư từ ngân sách Nhà nước được triển khai ở các vị trí quan trọng then chốt nhất nhằm đảm bảo cho nên kinh tế xã hội phát triển ồn định. Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước là công cụ dé Nha nước chủ động điều chỉnh tông cung và tổng cầu của nền kinh tế. Về mặt cầu: Đầu tư phát triển trong đó có đầu tư từ ngân sách Nhà nước sẽ tạo ra khả năng kích cầu tiêu dùng trong sản xuất, thúc day lưu thông, tạo công ăn việc làm, thu nhập. 11 Về mặt cung: Khi các dự án hoàn thành đưa vào sử dụng, năng lực mới của nền kinh tế tăng lên tác động làm tăng tổng cung trong dai dạn, kéo theo tăng sản lượng tiềm năng, giá cả sản phẩm giảm.
Đầu tư phát triển từ ngân sách Nha nước là công cụ dé Nhà nước chủ động điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành, vùng, lãnh thổ. Thông qua đầu tư các chương trình dự án ở vùng sâu vùng xa về giao thông, xây dựng, y tế, giáo dục giúp cho các vùng này có điều kiện giao thông thuận lợi, nhân dân được giáo dục nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe tạo điều kiện phát triển vùng, có thé điều chỉnh ngành nghề này phát triển, hạn chế ngành nghề khác không có lợi. Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế và cho toàn nền kinh tế phát triển. Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước được coi là vốn môi dé thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển.
Chăng hạn có đường giao thông thuận lợi thì thị trường hàng hoá có điều kiện phát triển, cơ sở hạ tầng kinh tế phát triển sẽ tạo khả năng to lớn để thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá giáo dục, y tế, du lịch. Đầu tư phát triển từ ngân sách Nhà nước có vai trò mở đường cho sự phát triển nguồn nhân lực, phát triển khoa học công nghệ, chăm sóc sức khoẻ của nhân dân. Do các dự án đầu tư vào những lĩnh vực trên thường rất tốn kém, độ rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn thấp nên Nhà nước thường phải đầu tư băng nguồn vốn ngân sách nhà nước như: các dự án đầu tư cho phòng thí nghiệm trọng điểm, các trạm, trại nghiên cứu giống mới, các trường đại học, các bệnh viện, các trung tâm y tế dự phòng. Có đầu tư của nhà nước sẽ cung cấp các dịch vụ công tạo điều kiện nâng cao hiệu quả đầu tư của nền kinh tế xã hội.
Quản lý dự án đầu tư phát triển sử dụng nguồn vốn NSNN 12 1.