lời mở đầu, phần kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu bài khóa luận gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý chuỗi cung ứng xanh trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng mô hình quản lý chuỗi cung xanh của IKEA Chƣơng 3: Bài học rút ra cho các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam về ứng dụng quản lý chuỗi cung ứng xanh từ mô hình quản lý chuỗi cung ứng xanh của IKEA Bài khóa luận được thực hiện với mong muốn đưa ra được một phần giải pháp để giúp các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cải tiến và hoàn thiện chuỗi cung ứng trong hiện tại và tương lai. Trong quá trình nghiên cứu, do hạn chế về mặt thời gian, công sức của tác giả nên bài khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong các thầy cô có ý kiến đóng góp sửa chữa để tác giả có thể hoàn thiện hơn nữa. Cuối cùng, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô tại Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế của trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội và đặc biệt người viết xin trân trọng cảm ơn PGS-TS Phạm Thu Hương, phó trưởng khoa Sau Đại học đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ trong quá trình thực hiện học phần tốt nghiệp này. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG XANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng 1. Định nghĩa chuỗi cung ứng và thành phần của chuỗi cung ứng Định nghĩa về chuỗi cung ứng hiện nay được nhìn nhận dưới nhiều góc độ của các nhà nghiên cứu. Theo Chopra Sunil và Peter Meindl: Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng (Chopra Sunil và Peter Meindl, 2001, tr. Định nghĩa này chỉ ra trong một tổ chức, cụ thể là một nhà sản xuất, chuỗi cung ứng chứa đựng tất cả các chức năng liên quan tới việc đón nhận và làm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng. Những thực thể chức năng này được kể đến bao gồm, nhưng không giới hạn, việc phát triển sản phẩm mới, marketing, vận hành, phân phối, tài chính, và dịch vụ khách hàng. Những doanh nghiệp cung cấp, lưu kho, bán lẻ đều là những doanh nghiệp có liên quan trực tiếp tới việc đáp ứng các nhu cầu cụ thể của khách hàng.
Bên cạnh đó, có rất nhiều doanh nghiệp khác liên quan một cách gián tiếp đến khách hàng có thể kể đến, họ chính là những nhà cung cấp dịch vụ, công ty vận tải, nhà môi giới, các đại lý và các nhà tư vấn… Những doanh nghiệp liên quan gián tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự kết nối vật chất và thông tin một cách liền mạch, nhanh chóng và hiệu quả cho doanh nghiệp. Sự liên kết của các tổ chức nói trên không chỉ theo một chuỗi mà trên thực tế là một mạng lưới, một nhà sản xuất có thể thu mua nguyên vật liệu từ nhiều nhà cung cấp, sau đó sản xuất và bán hàng cho nhiều nhà cung cấp, nhà bán lẻ để sản phẩm cuối cùng có thể đến được tay khách hàng tiêu dùng cuối cùng.1 là mô hình đơn giản hóa tối đa một chuỗi cung ứng với một doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng là trung tâm. Các thành phần của chuỗi cung ứng có thể kể đến theo chiều từ trái qua phải như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. (2) Những nguyên liệu thô được bán cho các công ty cung ứng nguyên liệu, những công ty này thực hiện việc thu mua theo đơn hàng và theo các tiêu chuẩn được đặt ra bởi các nhà sản xuất phụ kiện, linh kiện, lắp ráp phụ.
(3) Sau khi nguyên liệu thô trở thành nguyên liệu cho các nhà sản xuất phụ kiện, linh kiện, lắp ráp phụ sản xuất tạo ra thành phẩm theo các đơn đặt hàng và tiêu chuẩn từ khách hàng của họ, những người sản xuất ra thành phẩm cuối cùng. (4) Những người sản xuất sản phẩm cuối cùng lắp ráp, gia công để tạo ra các sản phẩm hoàn thiện rồi bán những sản phẩm đó cho người phân phối. (5) Những người bán sỉ bán lại các thành phẩm cho những nhà bán lẻ theo các đơn đặt hàng. Những người bán sỉ còn được gọi là khách hàng cấp 1.
(6) Nhà bán lẻ bán hàng hóa cho những người tiêu dùng và cũng là những khách hàng cuối cùng của chuỗi cung ứng. Những người bán lẻ còn được gọi là khách hàng cấp 2. (7) Khách hàng tiêu dùng sử dụng sản phẩm/dịch vụ, hay khách hàng cấp 3.1: Sơ đồ chuỗi cung ứng điển hình Nguồn: J Wisner, KC Tan, G Leong, 2012, tr. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các hoạt động dịch chuyển nguyên liệu qua các doanh nghiệp (1), (2), (3) ở phía bên trái doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cuối cùng được gọi là dòng ngược (upstream), những doanh nghiệp (5), (6), nơi dòng sản phẩm hoàn thiện đi qua để đến tay người tiêu dùng cuối cùng được gọi là dòng xuôi (downstream).
Ở dòng ngược, các doanh nghiệp cung cấp có thể được chia theo cấp 1, 2, 3 tùy theo mức độ gần với doanh nghiệp sản xuất cuối cùng. Tương tự ở dòng xuôi, sản phẩm cuối cùng được bán cho các khách hàng cấp 1, khách hàng cấp 2 để đến tay khách hàng cấp 3 - người tiêu dùng. Khách hàng cấp 3 mua sản phẩm dựa trên sự kết hợp của chi phí, chất lượng, sự sẵn có, chế độ bảo hành và thương hiệu với hi vọng sản phẩm đó sẽ thỏa mãn các yêu cầu và mong đợi của họ. Cùng với đó, các khách hàng này cũng có nhu cầu trả lại sản phẩm hoặc yêu cầu sửa chữa, bảo hành hoặc vứt bỏ sản phẩm hoặc tái chế chúng.
Các hoạt động thu hồi, tái chế sản phẩm từ tay người tiêu dùng cuối cùng cũng là một phần của chuỗi cung ứng và được gọi là các hoạt động logistic đảo ngược (reverse logistics). Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị trong kinh tế có mối liên hệ mật thiết. Theo Nagurney Anna (2006): “Chuỗi cung ứng là một hệ thống của các tổ chức, con người, các hoạt động, thông tin và tài nguyên liên quan đến sự vận động của sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp đến khách hàng. Các hoạt động chuỗi cung ứng chuyển đổi tài nguyên tự nhiên, vật liệu thô, và các thành phần thành sản phẩm hoàn chỉnh được vận chuyển tới khách hàng.
Trong hệ thống chuỗi cung ứng phức tạp, các sản phẩm người dùng có thể quay trở lại chuỗi cung ứng bất cứ chỗ nào mà giá trị còn lại có thể tái chế. Các chuỗi cung ứng liên kết các chuỗi giá trị. 10) Định nghĩa này đã nêu lên sự liên kết giữa chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị. Rõ ràng, chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị có vai trò quan trọng trong việc sản xuất và phân phối sản phẩm từ doanh nghiệp tới khách hàng.
Chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị sản phẩm có sự bổ sung lẫn nhau trong hệ thống chuỗi liên kết trong các doanh nghiệp. Chuỗi cung ứng tập trung vào dòng ngược (upstream) tương tác giữa các tiến trình của nhà sản xuất và nhà cung cấp, nâng cao hiệu quả và giảm bớt hao phí, trong khi đó chuỗi giá trị tập trung vào dòng xuôi (downstream) về tạo ra giá trị trong con mắt của khách hàng vì khách hàng ở đây là khởi nguồn của giá trị và dòng giá trị bắt đầu từ khách hàng dưới dạng nhu cầu đối với nhà sản xuất. Chuỗi giá trị luôn có sự biến động lớn tùy theo thị hiếu và sở thích của khách hàng tiêu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 dùng sản phẩm và dịch vụ. Để chuỗi cung ứng tạo ra giá trị lớn nhất trong môi trường cạnh tranh, phải có sự đồng bộ trong tương tác và phối hợp quản lý hiệu quả đồng thời giữa dòng cung ứng cung ứng và dòng giá trị từ khách hàng.
Định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng Các chuỗi cung ứng được tạo ra phải đạt được mục đích tối đa hóa giá trị tổng thể trên cơ sở làm thỏa mãn những nhu cầu của khách hàng cuối cùng. Giá trị này là sự chênh lệch giữa giá trị sản phẩm cuối cùng đến khách hàng và chi phí phát sinh chuỗi cung ứng để làm thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng. Có thể nhận thấy để đạt được mục đích này, mục tiêu đặt ra là phải làm tăng giá trị sản phẩm cuối cùng đến với khách hàng bởi đó là nguồn thu duy nhất đối với bất kỳ một chuỗi cung ứng nào. Có rất nhiều các khái niệm về chuỗi cung ứng hiện hành của các tổ chức chuyên nghiệp, nhưng ba khái niệm sau đây được tin cậy sử dụng bởi tính thực tế trong quản lý chuỗi cung ứng (J Wisner, 2012, tr.
6): Định nghĩa 1: Quản lý chuỗi cung ứng là lên kế hoạch và quản trị tất cả các hoạt động tham gia vào tìm nguồn cung ứng, tìm nguồn hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị hậu cần (logistics). Quan trọng hơn cả, nó cũng bao gồm sự hợp tác và cộng tác với các kênh phân phối là các nhà cung cấp, trung gian, bên thứ ba cung cấp dịch vụ và khách hàng. (Hội đồng các chuyên gia về quản trị chuỗi cung ứng định nghĩa quản trị chuỗi cung ứng) Định nghĩa 2: Quản lý chuỗi cung ứng là thiết kế và quản trị quá trình liên tục, gia tăng giá trị thông qua các phạm vi tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng. (Học viện quản trị cung ứng (ISM) mô tả quản trị chuỗi cung ứng) Định nghĩa 3: Quản trị chuỗi cung ứng là một hệ thống phối hợp các kỹ thuật lên kế hoạch và thực hiện tất cả các bước trong mạng lưới toàn cầu thu nhận nguyên liệu thô từ người bán, chuyển đổi chúng thành thành phẩm và vận chuyển hàng hóa và dịch vụ tới khách hàng.
(Hội Logistics & Supply Chain Management trụ sở Singapore) Sự thống nhất qua các khái niệm trên là ý tưởng về sự kết hợp và tương tác giữa một loạt các hoạt động liên quan đến hàng hóa và liên quan đến dịch vụ giữa các bên tham gia chuỗi cung ứng nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng và dịch vụ khách hàng giữa các tổ chức hợp tác.