MỞ ĐẦU Xu hƣớng hội nhập khu vực và thế giới đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc hoạch định đồng bộ trên nhiều ĩnh vực nhằm phát triển toàn diện đất nƣớc và thực tiễn đã đạt đƣợc nhiều thành tựu to lớn, làm phát triển nền kinh tế quốc dân, ổn định xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng đƣợc cải thiện. "Đầu tƣ cho giáo dục à đầu tƣ cho tƣơng ai"; "Giáo dục và đào tạo (GDĐT) là quốc sách hàng đầu"…Đầu tƣ cho giáo dục, trong đó đầu tƣ cho các hoạt động giáo dục thể chất đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt chú trọng. Đầu tƣ cho giáo dục thể chất (GDTC) có nghĩa à đầu tƣ cho việc cải tạo nòi giống, đáp ứng các yêu cầu phát triển đất nƣớc và đƣợc thể chế hóa cụ thể bằng Luật Thể dục thể thao (TDTT). Về nội dung GDTC và công tác TDTT trƣờng học, luật TDTT n u rõ: "Cơ quan quản ý nhà nƣớc về GDĐT, nhà trƣờng và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ thống giáo dục quốc dân có trách nhiệm tạo các điều kiện hoạt động cho các câu lạc bộ (CLB) TDTT của học sinh, sinh viên (HSSV) và các trung tâm TDTT trực thuộc" và "Nhà trƣờng, các cơ sở giáo dục hác đảm bảo thực hiện đầu tƣ xây dựng và sử dụng đúng mục đích cơ sở vật chất dành cho môn học GDTC và hoạt động thể thao theo quy định của luật giáo dục, luật GDTC và pháp luật liên quan" [61] Hiện nay, các điều kiện đảm bảo chất ƣợng GDTC và hoạt động TDTT ngoại hóa trong các trƣờng đại học (ĐH) ngày càng tốt hơn.
Chƣơng trình nội hóa đƣợc nghiên cứu thay đổi linh hoạt, mềm dẻo; Năng ực, trình độ đội ngũ giáo vi n và cán bộ quản ý ngày càng đƣợc nâng cao; Điều kiện cơ sở vật chất, sân tập, dụng cụ ngày càng đƣợc tăng cƣờng; Các hoạt động thể thao ngoại hóa đƣợc sự quan tâm chỉ đạo từ Bộ GDĐT đến các nhà trƣờng… Tuy nhi n, theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu và thực tiễn đánh giá của Nhà nƣớc, hiệu quả và chất ƣợng GDTC cho HSSV trong trƣờng học các cấp vẫn còn thấp. Nguy n nhân à do chƣơng trình nội khóa thể dục hiện nay với thời ƣợng ít, tổ chức dạy học chƣa tốt, thiếu hụt giáo vi n, cơ sở vất chất còn nghèo nàn. [64], chƣa thật sự à động lực thúc đẩy quá trình phát triển và hoàn thiện thể chất cho ngƣời học. Mặt khác, vì nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau mà hoạt động thể thao ngoại hóa chƣa trở 2 thành niềm đam m , thói quen rèn uyện thƣờng xuyên hàng ngày của HSSV.
Về đánh giá cụ thể của đề án tổng thể phát triển thể chất và nâng cao tầm vóc ngƣời Việt Nam giai đoạn 2011 - 2030 khẳng định: Thực tiễn trong điều kiện đất nƣớc có nhiều hó hăn, nguồn lực còn hạn hẹp, đƣợc sự quan tâm, chăm o của Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội, với những nỗ ực của ngành GDĐT, công tác GDTC và thể thao trƣờng học đã đạt những ết quả quan trọng trong việc phát triển thể chất nâng cao thể lực, nhằm giáo dục toàn diện cho HSSV, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất ƣợng cao. Tuy nhiên, chất ƣợng GDTC và thể thao trƣờng học nhìn chung còn nhiều bất cập. Thể chất của HSSV chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc [64]. Việc chuyển đổi đồng bộ từ đào tạo tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ của ĐH Huế là phù hợp với quy luật phát triển của giáo dục ĐH nhƣng đồng thời cũng nảy sinh nhiều hó hăn, bất cập, nhất là tổ chức và quản lý các hoạt động tập thể, các hoạt động ngoại hóa, trong đó có hoạt động TDTT ngoại khóa.
Nghiên cứu đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển TDTT ngoại hóa trƣờng học đã đƣợc nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đã góp phần nâng cao chất ƣợng hoạt động thể thao ngoại khóa cho HSSV. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu điển hình tr n quan tâm đến các mảng định hƣớng bằng các thiết chế chung ở góc độ CLB thể dục thể thao cơ sở (CLB TDTT CS) trƣờng học; Xây dựng nội dung và hình thức tổ chức hoạt động TDTT ngoại hóa cho các trƣờng ĐH; Các giải pháp phát triển TDTT ngoại khóa trong phạm vi trƣờng học; Hiệu quả tập luyện của sinh viên (SV) trong CLB TDTT nơi cƣ trú.cũng chỉ là các giải pháp tổ chức TDTT ngoại khóa riêng trong nội bộ trƣờng học hoặc chỉ mang tính chất khảo sát, đánh giá hiệu quả tập luyện TDTT ngoại khóa của SV trong trƣờng học và tập luyện tại các tổ chức TDTT b n ngoài. Chƣa có công trình hoa học nào đề cập đến các hoạt động phối hợp hoặc liên kết TDTT giữa trƣờng học và các đơn vị TDTT b n ngoài để tăng cƣờng các điều kiện tổ chức tập luyện, tạo cơ hội và hấp dẫn, thu hút HSSV tham gia tập luyện thƣờng xuyên TDTT. Tr n cơ sở ý nghĩa và tầm quan trọng của vấn đề đặt ra, hƣớng nghiên cứu đề 3 tài đƣợc xác định: "Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết thể dục thể thao giữa Đại học Huế và các tổ chức thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Huế".
- Mục đích nghiên cứu: Đề tài đƣợc nghiên cứu với mục đích tăng cƣờng các điều kiện để tổ chức tập luyện TDTT ngoại hóa trong trƣờng học; Xây dựng đƣợc mô hình tổ chức và hoạt động TDTT ngoại khóa phù hợp cho SV, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho SV tiếp cận, tham gia tập luyện TDTT ngoại khóa có tổ chức, hƣớng dẫn, đáp ứng nhu cầu vận động và thƣởng thức TDTT, tăng số ngƣời tập luyện thƣờng xuyên TDTT, góp phần hoàn thiện mục ti u đào tạo nguồn nhân lực của ĐH Huế và đáp ứng đƣợc yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. - Mục tiêu nghiên cứu: Để giải quyết mục đích của đề tài các mục tiêu sau đây đƣợc đặt ra: 1. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn và nhu cầu xây dựng mô hình liên kết về TDTT giữa ĐH Huế và các tổ chức TDTT bên ngoài. Bƣớc đầu xây dựng mô hình CLB TDTT Liên kết giữa các đơn vị thành vi n ĐH Huế với các tổ chức TDTT tr n địa bàn thành phố Huế.
Ứng dụng mô hình CLB TDTT liên kết giữa ĐH Huế và các tổ chức TDTT tr n địa bàn thành phố Huế. - Giả thiết khoa học: Đề tài đƣợc tổ chức nghiên cứu để kiểm định giả thiết cho rằng: Mô hình liên kết TDTT giữa ĐH Huế và các tổ chức TDTT bên ngoài là giải pháp phù hợp, tăng cƣờng đƣợc các điều kiện tổ chức TDTT ngoại khóa cho SV. Đáp ứng nhu cầu cần tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa của các đơn vị thành vi n, đáp ứng thực tiễn nhu cầu cần đƣợc liên kết của các tổ chức TDTT bên ngoài; Sẽ là nhân tố thu hút đông đảo SV tham gia TDTT ngoại hóa cũng nhƣ các đối tƣợng ngoài xã hội có nhu cầu tham gia tập luyện TDTT. Đồng thời, hiệu quả cụ thể sẽ chứng minh chủ trƣơng đúng đắn của chiến ƣợc phát triển GDTC của Bộ GDĐT trong việc cần phải đa dạng hóa các loại hình CLB TDTT CS trƣờng học hiện nay.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tƣ tƣởng Hồ Chí inh về Thể dục thể thao TDTT là một bộ phận của nền văn hóa nhân oại nhằm hoàn thiện con ngƣời với quan niệm vận động là sức khỏe, là sự sống. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh uôn quan tâm đến mọi ĩnh vực hoạt động của đất nƣớc, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì sự tiến bộ và hạnh phúc của nhân dân. TDTT là một trong những ĩnh vực đƣợc Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chỉ đạo, xây dựng và phát triển ngay từ sau cách mạng tháng tám thành công cũng nhƣ trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ đất nƣớc.
Tƣ tƣởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định về nền tảng của sự nghiệp TDTT nƣớc ta là: TDTT là một công tác cách mạng vừa nhu cầu vừa là quyền lợi vừa à nghĩa vụ của quần chúng, là sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân. Công tác TDTT có nhiệm vụ nghiên cứu phƣơng pháp và thực hành thể dục trong toàn quốc nhằm tăng bổ sức khoẻ quốc dân và cải tạo nòi giống Việt Nam. Để tăng cƣờng và mở rộng các hoạt động TDTT, ngay sau hi đất nƣớc giành đƣợc độc lập, ngày 30-1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý Sắc lệnh số 14, thành lập Nha Thể dục Trung ƣơng thuộc Bộ Thanh niên, tiền thân của ngành TDTT ngày nay. Ngày 27-3-1946, Ngƣời ký Sắc lệnh số 33, thành lập Nha Thanh niên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia giáo dục gồm phòng thanh niên và phòng thể dục trung ƣơng.
Cũng trong tháng 3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết "Lời kêu gọi toàn dân t p thể dục", chỉ ra mục đích, tính chất của của nền TDTT Việt Nam mới. Mục tiêu của TDTT là bảo vệ, tăng cƣờng sức khỏe cho nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống Việt Nam, à cho dân cƣờng, cho nƣớc thịnh. Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, Bác viết: "Giữ gìn dân chủ, xây dựng nƣớc nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công; mỗi ngƣời dân yếu ớt tất cả làm cho cả nƣớc yếu ớt một phần, mỗi ngƣời dân mạnh khỏe tức là góp phần cho cả nƣớc mạnh khỏe. Vì vậy luyện tập thể dục, bồi dƣỡng sức khỏe là bổn phận của mỗi ngƣời dân y u nƣớc" [13].
Tƣ tƣởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về TDTT không 5 những đƣợc thể hiện những ý kiến về sự quan tâm đối với ĩnh vực này mà còn đƣợc thể hiện trong thực tế rèn luyện của mình hi Ngƣời viết: "Tự tôi, ngày nào cũng tập thể dục" [58]. Tháng 5/1946, Ngƣời đích thân phát động phong trào "Khoẻ vì nƣớc". Những việc làm thiết thực trên cho thấy, Hồ Chí Minh đã hai sinh ra nền TDTT của nƣớc Việt Nam mới [71]. Về TDTT trƣờng học, Bác coi đó à mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục chủ nghĩa cộng sản cho thanh niên, HSSV.
Tăng cƣờng thể chất của nòi giống Việt Nam đƣợc Bác quan tâm trong quá trình ãnh đạo đất nƣớc: “Thanh ni n phải rèn luyện TDTT, vì thanh ni n à tƣơng ai của đất nƣớc…” [13]. Ngày 17/9/1946, tết trung thu đầu tiên của nƣớc Việt Nam độc lập, Bác Hồ gửi thƣ cho học sinh (HS).