CHƯƠNG I. GIỚI THIỆU TRÍ TUỆ NHÂN TẠO 1. Giới thiệu trí tuệ nhân tạo Trí thông minh của máy tính do con người tạo ra gọi là trí tuệ nhân tạo. Sự ra đời của chiếc máy tính điện tử đầu tiên, hệ thống máy tính đã được các nhà khoa học phát triển (gồm cả phần cứng và phần mềm) sao cho nó có khả năng thông minh như loài người.
Mơ ước này vẫn còn xa và chưa thành hiện thực đối với tác giả, tuy vậy những thành tựu đạt được cũng không hề nhỏ: chúng ta đã nghiên cứu được các hệ thống (phần mềm chơi cờ vua chạy trên siêu máy tính GeneBlue) có thể thắng được vua cờ thế giới; chúng ta đã làm tạo ra các phần mềm có thể chứng minh được các bài toán hình học. Hay nói theo các cách khác nhau, trong một số trường hợp, con người thực hiện một số nhiệm vụ và yêu cầu máy tính thực hiện như vậy (tất nhiên không phải tất cả các lĩnh vực), đó chính là máy tính thông minh của tương lai. Trí thông minh của máy tính có thể có nhiều cách để làm ra (hay là trí tuệ nhân tạo), chẳng hạn là tìm hiểu cách bộ não người phát sinh ra trí thông minh như thế nào rồi ta bắt chước nguyên lý đó, nhưng cũng có nhiều cách khác sử dụng những nguyên lý khác nhau với cách sản sinh ra trí thông minh của loài người mà vẫn làm ra máy tính thông minh như con người. Như vậy, khả năng của máy khi thực hiện các công việc mà con người thường phải xử lý gọi là trí tuệ nhân tạo; máy thông minh hay máy đó có trí thông minh là khi kết quả thực hiện của máy tốt hơn hoặc tương đương với con người.
Nói theo nhiều cách khác, máy tính thông minh không phải đánh giá dựa trên nguyên lý máy tính thực hiện nhiệm vụ đó có giống cách con người thực hiện hay không mà dựa trên những kết quả đó có giống với con người thực hiện hay không? Nhiệm vụ con người thường xuyên cần phải thực hiện đó là: giải bài toán ( tìm kiếm, chứng minh, lập luận), giao tiếp, thể hiện cảm xúc, học, thích nghi với môi trường xung quanh… v.v, và dựa trên các kết quả thực hiện các nhiệm vụ đó để rút ra một điều rằng một ai đó có là thông minh hay không. Trí tuệ nhân tạo nhằm cung cấp các phương pháp để làm ra các nhiệm vụ đó hệ thống có khả năng thực hiện: giao 5 Luan van tiếp, học, giải toán. dù cho cách nó làm có giống như con người hay không mà là kết quả đạt được hoặc dáng vẻ bên ngoài như con người. Các lĩnh vực thuộc trí tuệ nhân tạo Trong những năm gần đây, AI - Artificial Intelligence (Trí Tuệ Nhân Tạo) được xem như cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư nổi lên như một bằng chứng và cụ thể hơn là Machine Learning (Học Máy).
Trí Tuệ Nhân Tạo đã và đang len lỏi vào tất cả các lĩnh vực trong đời sống mà có thể chúng ta không hề hay biết. Xe tự lái của Google và Tesla, hệ thống tự nhận diện khuôn mặt trong ảnh của Facebook, trợ lý ảo Siri của Apple, hệ thống trợ giúp của Amazon, hệ thống tìm kiếm phim của Netflix, máy chơi cờ vây AlphaGo của Google DeepMind, …, chỉ là một vài trong rất nhiều những ứng dụng của Machine Learning. Khi mà khả năng tính toán của các máy tính được nâng lên một tầm cao mới và lượng dữ liệu khổng lồ được thu thập bởi các hãng công nghệ lớn, Machine Learning đã tiến thêm một bước dài và một lĩnh vực mới được ra đời gọi là Deep Learning, Deep Learning đã giúp máy tính thực thi những việc tưởng chừng như không thể vào 10 năm trước: phân loại cả ngàn vật thể khác nhau trong các bức ảnh, tự tạo chú thích cho ảnh, bắt chước giọng nói và chữ viết của con người, giao tiếp với con người, hay thậm chí cả sáng tác văn hay âm nhạc.1:Quan hệ giữa AI, Machine Learning và Deep Learning 1. Học máy 6 Luan van Trong những năm gần đây Machine Learning đang là một công nghệ gây sốt trên toàn thế giới.
Một trong số nhóm giới học thuật, có rất nhiều bài báo khoa học về đề tài này mỗi năm. Trong giới công nghiệp, từ các công ty lớn như Facebook, Google, Microsoft đến các dự án khởi nghiệp của các công ty đều đầu tư vào Machine Learning. Ứng dụng sử dụng Machine Learning ra đời hàng loạt trên mọi lĩnh vực của cuộc sống, từ khoa học máy tính đến những ngành ít liên quan hơn như y học, vật lý, chính trị, hóa học. AlphaGo, với số lượng phần tử còn nhiều hơn số lượng hạt trong vũ trụ được cỗ máy đánh cờ vây có khả năng tính toán, tối ưu hơn và đưa ra các nước đi hơn bất kì đại kì thủ nào, là một trong rất nhiều ví dụ lớn lao cho sự vượt trội của Machine Learning so với các phương pháp cổ điển [3].
Để giới thiệu cụ thể hơn về Machine Learning, dựa vào mối quan hệ của nó với ba khái niệm sau: Machine Learning và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence hay AI) Machine Learning cùng với Big Data. Machine Learning và dự đoán tương lai. AI, trí tuệ nhân tạo, một cụm từ vừa gần gũi vừa xa lạ với chúng ta. Gần gũi bởi vì thế giới đang bùng nổ với những công nghệ được dán nhãn AI.
Xa lạ bởi vì một AI thực thụ vẫn còn chưa phổ biến với chúng ta. Theo hiểu biết chung trong giới hàn lâm, AI là một ngành khoa học được sinh ra với mục đích làm cho máy tính có khả năng học được trí thông minh. Điều này vẫn chưa rõ ràng vì định nghĩa về trí thông minh vẫn chưa thống nhất. Một số nhiệm vụ cụ thể hơn được các nhà khoa học tự định nghĩa, một trong số đó là phần mềm trên máy tính lừa được Turing Test.
Turing Test được tạo ra bởi Alan Turing (1912-1954), một trong những người đặt nền tảng cho ngành khoa học máy tính thông minh, dùng để phân biệt xem người đối diện có phải là người hay không [3]. Con người muốn AI thể hiện một mục tiêu. Machine Learning là một công cụ được kỳ vọng sẽ giúp con người đạt được mục tiêu đó. Và thực tế thì Machine Learning đã mang con người đi rất xa trên con đường chinh phục AI.
Nhưng vẫn còn một đoạn đường xa hơn rất nhiều cần phải đi. Machine Learning và AI có mối quan 7 Luan van hệ bền chặt với nhau nhưng chưa hẳn là trùng khớp vì một bên là phương tiện (AI), một bên là mục tiêu (Machine Learning). Chinh phục AI mặc dù vẫn là mục đích tối thượng của Machine Learning, nhưng hiện tại Machine Learning tập trung vào những mục tiêu ngắn hạn hơn như: Làm cho máy tính có những khả năng nhận thức cơ bản của con người như nghe, nhìn, hiểu được ngôn ngữ, giải toán, lập trình, …và hỗ trợ con người trong việc xử lý một khối lượng thông tin khổng lồ mà chúng ta phải đối mặt hàng ngày, hay còn gọi là Big Data [3]. Big Data thực chất chưa phải là một ngành khoa học chính thống.
Đó là một cụm từ được dân cư mạng tung hô để ám chỉ thời kì bùng nổ của dữ liệu hiện nay. Big Data nó cũng không khác gì nhiều so với những cụm từ như "cách mạng công nghiệp", "kỉ nguyên phần mềm". Big Data là một điều tất yếu của việc sử dụng mạng Internet ngày càng có nhiều kết nối. Với sự ra đời của các mạng xã hội nhưng Twitter, Instagram, Facebook, có nhu cầu chia sẻ thông của con người tăng trưởng một cách đáng kể.
Nơi được mọi người chia sẻ video và comment về nội dung của video Youtube cũng có thể được xem là một hệ thống của mạng xã hội. Một số ví dụ điển hình về quy mô của Big Data: • Theo con số thông kê khoảng 500 giờ video được upload trên youtube trong mỗi phút (theo https://www.com/yt/press/statistics.html) • Có khoảng hơn 800 triệu người thật sự sử dụng Facebook mỗi ngày, trong đó 86.8% trong số đó ở ngoài Mỹ và Canada (theo http://newsroom.com/company- info) • Nhu cầu tìm kiếm thông tin tăng đi đôi với nhu cầu chia sẻ cũng tăng. Google phải xử lý 200 tỉ lượt tìm kiếm mỗi tháng, tức là 4,3 tỉ lượt mỗi ngày và 39.000 lượt mỗi giây (theo http://www.com/google-search-statistics/). Và những con số này đang tăng lên theo từng ngày đáng kinh ngạc! [3].
Big Data đây không phải là danh từ duy nhất dẫn đến sự ra đời của từ Bùng nổ thông tin. Ta biết rằng Big Data xuất hiện nhưng lượng dữ liệu tích tụ kể từ khi mạng Internet xuất hiện vào cuối thập kỉ trước cũng không phải là nhỏ. Thế nhưng, lúc đó có một khối dữ liệu khổng lồ và không biết làm gì với chúng ngoài lưu trữ và 8 Luan van sao chép. Cho đến một ngày, các nhà khoa học nhận ra rằng trong khối lượng dữ liệu ấy thực ra chứa một khối lượng thông tin tri thức khổng lồ và cần thiết.
Những tri thức ấy có thể giúp cho ta hiểu thêm về nhiều lĩnh vực khác trong xã hội. Đối với những danh sách bộ phim yêu thích của một cá nhân phần mềm có thể rút ra được sở thích của người đó và giới thiệu những bộ phim người ấy chưa từng xem và tương đối phù hợp với sở thích. Từ danh sách tìm kiếm của cộng đồng mạng phần mềm sẽ biết được vấn đề đang được quan tâm nhất sẽ tập trung đăng tải nhiều hơn về vấn đề đó. Big Data chỉ mới bắt đầu từ khi chúng ta hiểu được giá trị của dữ liệu chứa một lượng lớn thông tin, và có đủ dữ liệu cũng như công nghệ để có thể nghiên cứu chúng trên một quy mô rộng lớn.
Và không có gì bất ngờ khi Machine Learning chính là thành phần quan trọng của công nghệ đó. Big Data và Machine Learning có quan hệ mật thiết với nhau nhờ sự gia tăng của khối lượng dữ liệu của Big Data mà Machine Learning phát triển ngày một lớn, ngược lại giá trị của Big Data phụ thuộc vào kỹ năng khai thác thông tin tri thức từ dữ liệu của Machine Learning. [3] Trước kia, khi mạng Internet ra đời Machine Learning đã xuất hiện từ rất lâu. Machine Learning có những thuật toán đầu tiên là Perceptron được phát minh ra bởi Frank Rosenblatt vào năm 1957.
Nó là một thuật toán rất quan trọng dùng để phân loại hai khái niệm. Một ví dụ đơn giản là phân loại thư rác (tam giác) và thư bình thường (vuông). Đối với Perceptron, là việc vẽ một đường thẳng trên mặt phẳng để phân chia hai tập hợp điểm: Hình 1.2: Dữ liệu được phân chia làm hai tập điểm.