Phần mở đầu, 3 chương, phần kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục. Lý luận chung về mô hình và hoạt động R&D 1. Mô hình kết hợp hoạt động R&D 1. Đặc điểm của hoạt động R&D và Quản lý chất lượng trong R&D của ngành Dược 1.
Sự cần thiết khách quan của việc xây dựng mô hình kết hợp hoạt động giữa các tổ chức R&D trong ngành Dược Chƣơng 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG R&D VÀ VẤN ĐỀ KẾT HỢP GIỮA TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC VỚI CÔNG TY TRAPHACO 2. Hoạt động R&D của một số trường đại học, công ty Dược trong nước và trên thế giới 2. Thực trạng hoạt động R&D của trường đại học Dược Hà Nội 2.
Thực trạng hoạt động R&D trong sản xuất của công ty Traphaco 2. Đánh giá chung về quá trình hoạt động R&D và một số hình thức hợp tác xây dựng mô hình kết hợp giữa trường Đại học Dược và công ty Dược Traphaco 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 3. XÂY DỰNG MÔ HÌNH KẾT HỢP HOẠT ĐỘNG R&D GIỮA TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI VÀ CÔNG TY DƢỢC TRAPHACO 3. Mô hình R&D và một số giải pháp GMP tại công ty Dược Traphaco 3.
Mô hình hoạt động R&D và một số giải pháp nâng cao chất lượng NCKH của trường đại học Dược Hà Nội 3. Xây dựng mô hình kết hợp giữa trường đại học Dược Hà Nội và công ty Dược Traphaco 3. Mô hình xưởng sản xuất thuốc GMP - WHO trong trường đại học Dược Hà Nội Phần kết luận và khuyến nghị 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. Lý luận chung về mô hình và hoạt động R&D 1.
Khái niệm về mô hình + Mô hình là gì? Có rất nhiều khái niệm khác nhau về mô hình, mục đích để diễn tả những đặc tính của sự vật, hiện tượng, công thức, sơ đồ, vật dụng thí nghiệm, hay một dây chuyền sản xuất cùng với nguyên vật liệu và sản phẩm… Như vậy, theo http://vi.org/wiki/ (bách khoa toàn thư mở) và http://www.vn/ “mô hình là công cụ giúp ta diễn tả một sự vật, một hiện tượng, hay một quá trình với mục đích phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất hay sinh hoạt tinh thần của con người”. Hoặc mô hình được hiểu là “vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều lần, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật thể khác để trình bày, nghiên cứu hoặc là hình thức diễn đạt hết sức ngắn gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, để nghiên cứu đối tượng ấy”. + Đặc điểm chung của mô hình: Nhìn chung tất cả các loại mô hình không nhất thiết phải giống 100% sự vật hiện tượng cần biểu diễn. Nhưng mô hình phải thoả mãn được một số yêu cầu cơ bản nhất của người sáng tạo ra và phải thể hiện được hay truyền tải những ý muốn, phân tích phê phán khi có sự tiếp xúc với mô hình.
+ Phân loại mô hình: Có nhiều cách để phân loại mô hình, nhưng chủ yếu dựa trên hai yếu tố chính đó là: hình thức, chức năng. - Phân loại theo hình thức gồm: công thức, đồ thị, bảng biểu, sơ đồ, sa bàn, vật mẫu… 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo chức năng: có mô hình hệ thống, mô hình cấu trúc, mô hình lô gic, mô hình toán, mô hình kết hợp… + Mô hình hệ thống là mô hình phản ánh một hệ thống, trong đó nêu được các phần tử bên trong, bên ngoài và các quan hệ tương tác giữa chúng. Hệ thống có thể là hệ thống chính trị, hệ thống quản lý, hệ thống pháp luật, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục, hệ thống đường sá. + Mô hình cấu trúc là mô hình thể hiện các thành phần bên trong của hiện tượng sự vật.
Không nhất thiết hiện tượng sự vật đó có là hệ thống hoặc không phải là hệ thống. Ví dụ một mô hình cấu trúc về quá trình sản xuất trong doanh nghiệp có thể chứa đựng cả những quá trình làm phá hỏng tính hệ thống, làm lãng phí các nguồn lực. + Mô hình lôgic là mô hình thể hiện chủ yếu thứ tự diễn ra các hiện tượng sự vật. Mô hình lôgic còn có tên gọi khác là mô hình mạng lưới.
Mô hình lôgic rất hữu ích để thể hiện quá trình sản xuất có rất nhiều công việc diễn ra đồng thời hoặc nối tiếp, thể hiện trình tự nghiên cứu giải quyết vấn đề trong khoa học, thể hiện các bước lập kế hoạch tối ưu … + Mô hình toán là mô hình dựa vào các công cụ toán học như công thức, đồ thị, bảng biểu để thể hiện các mối quan hệ về lượng nằm trong các hiện tượng sự vật được nghiên cứu. Mô hình toán là sự phát triển bậc cao của quá trình mô hình hóa. + Mô hình kết hợp là mô hình có tính đồng nhất hoặc tương đồng với cấu trúc của đối tượng được mô tả. Hay mô hình kết hợp là sự kết hợp các thuộc tính, cùng chung một hay một số thuộc tính của sự vật giống nhau để đi đến một mô hình lý tưởng.
Khái niệm về hoạt động R&D + Khái niệm về nghiên cứu khoa học: “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là khám phá, phát hiện bản chất sự 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, hoặc sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới” [6]. Hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) là các hoạt động có hệ thống, được liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao kiến thức, truyền bá, hay ứng dụng các tri thức vào lĩnh vực KH&CN. Nghiên cứu khoa học bao gồm ba hoạt động chính, đó là: - Hoạt động nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản và ứng dụng) và triển khai, viết tắt là R&D (Research & technical Development). - Hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ - Hoạt động chuyển giao công nghệ.
+ Nghiên cứu cơ bản: đó là những nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác. Sản phẩm là các khám phá, hay phát minh, để đưa đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. + Nghiên cứu ứng dụng: đó là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, tạo nên nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống. + Giải pháp: đó là một giải pháp về mặt công nghệ, về vật liệu, về tổ chức hay trong quản lý.
Nhưng để đưa được kết quả của nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong đời sống xã hội thì còn phải qua một giai đoạn nghiên cứu khác, gọi là nghiên cứu triển khai. + Triển khai: đó là sự vận dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các hình mẫu, quy trình sản xuất với những tham số khả thi về kỹ thuật. Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu này được thể hiện trong hình 1. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghiên cứu cơ bản thuần túy Nghiên cứu Nghiên cứu cơ bản nền tảng Nghiên cứu cơ bản định hướng Nghiên cứu Nghiên cứu chuyên đề ứng dụng Tạo vật mẫu Triển khai Tạo quy trình Sản xuất thử Hình 1.
Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu [6] Hoạt động triển khai gồm 3 bước chính: - Bước 1: tạo vật mẫu (Prototype), bước này chỉ làm ra các vật mẫu, chỉ được thực hiện trong các phòng thí nghiệm. - Bước 2: tạo quy trình sản xuất (Pilot), bước này chỉ xây dựng quy trình sản xuất sản phẩm mẫu, được tiến hành ở các xưởng thực nghiệm, thuộc viện hoặc xí nghiệp sản xuất. - Bước 3: sản xuất thử (Loạt 0) đây là bước cuối cùng, thử nghiệm cuối cùng, nhằm khẳng định khả năng thực thi quy trình chế tạo và áp dụng trong sản xuất. Ngành Dược Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển theo chiều dài lịch sử của đất nước, từ khi còn sản xuất thuốc thủ công cho đến khi hội nhập với nền công nghiệp dược thế giới và mang một số đặc điểm chủ yếu sau trong hoạt động nghiên cứu và triển khai.
21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Khái niệm về mô hình doanh nghiệp Spin-off Mô hình doanh nghiệp Spin-off là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở áp dụng vào thực tiễn các kết quả, thành công trong nghiên cứu KH&CN. Các kết quả NCKH này được hình thành từ các Viện nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức nghiên cứu tư nhân, hoặc tự cá nhân. Doanh nghiệp Spin-off có một số đặc điểm chính sau: - Sở hữu một bí quyết công nghệ cụ thể, có thể áp dụng vào quá trình đổi mới sản phẩm hoặc đổi mới một quá trình.
- Bí quyết công nghệ này có thể được doanh nghiệp thương mại hóa, với mục đích phục vụ nhu cầu của xã hội và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong ngành Dược, doanh nghiệp Spin-off được hình thành chủ yếu từ hai nguồn chính đó là từ các Viện nghiên cứu Dược và từ các trường đại học Dược. Còn ở các doanh nghiệp lớn, như tập đoàn Dược phẩm, việc hình thành doanh nghiệp Spin-off rất ít, vì thị trường Dược ở Việt Nam chủ yếu là nơi để các tập đoàn Dược nước ngoài thử nghiệm lâm sàng. Doanh nghiệp Spin-off trong ngành Dược vẫn chưa tự tách ra khỏi cơ sở mẹ (các viện – trường), chủ yếu vẫn phải dựa vào cơ sở hạn tầng của cơ sở mẹ, tranh thủ trang thiết bị, phòng thí nghiệm và mặt bằng hoạt động.
Hoạt động R&D trong các doanh nghiệp Spin-off chủ yếu vẫn do cơ sở mẹ đặt hàng, cung cấp tài chính, tìm đối tác. Cho nên, khi thành công trong NCKH, cở sở mẹ vẫn là nơi sở hữu các kết quả này, chịu trách nhiệm khi chuyển giao, mua bán. Trong giai đoạn hiện nay, việc hình thành các doanh nghiệp Spin-off trong các cơ quan thuộc ngành Dược đang được quan tâm riết rao. Đây là vao trò lớn giúp các tổ chức KH&CN trong ngành có điều kiện thương mại hóa các kết quá nghiên cứu, thành công trong NCKH.
Mặt khác, doanh nghiệp Spin-off giúp cho các tổ chức này có thực tiễn trong nghiên cứu, phù hợp với 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức năng của mình, gắn kết giữa đào tạo và nghiên cứu.