Chương 1. Lý luận chung về mô hình và hoạt động R&D 1. Khái niệm về mô hình + Mô hình là gì? Có rất nhiều khái niệm khác nhau về mô hình, mục đích để diễn tả những đặc tinh của sự vật, hiện tượng, công thức, sơ dé, vật dụng thí nghiệm, hay một dây chuyên sản xuât cùng với nguyên vật liệu và sản phâm. Như vậy, theo h/p:/wi.org/wiki/ (bách khoa toàn thư mở) va htip:/www.vn/ “mô hình là công cụ giúp ta diễn tả một sự vật, một hiện tượng, hay một quá trình với mục đích phục vụ cho hoạt động học tập, nghiên cứu, sản xuất hay sinh hoạt tinh thần của con người”.
Hoặc mô hình được hiểu là “vật cùng hình dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều lần, mô phỏng cầu tạo và hoạt động của một vật thể khác để trình bày, nghiên cứu hoặc là hình thức diễn đạt hết sức ngắn gọn theo một ngôn ngữ nào đó các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng, dé nghiên cứu đối tượng ay”. + Đặc điểm chung của mô hình: Nhìn chung tất cả các loại mô hình không nhất thiết phải giống 100% sự vật hiện tượng cần biéu diễn. Nhưng mô hình phải thoả mãn được một số yêu cầu cơ bản nhất của người sáng tạo ra và phải thể hiện được hay truyền tải những ý muốn, phân tích phê phán khi có sự tiếp xúc với mô hình. + Phân loại mô hình: Có nhiều cách dé phân loại mô hình, nhưng chủ yếu dựa trên hai yếu tố chính đó là: hình thức, chức năng.
- Phân loại theo hình thức gồm: công thức, đồ thị, bảng biểu, sơ đồ, sa ban, vật mâu. 18 - Theo chức năng: có mô hình hệ thống, mô hình cấu trúc, mô hình lô gic, mô hình toán, mô hình kết hợp. + Mô hình hệ thống là mô hình phản ánh một hệ thống, trong đó nêu được các phần tử bên trong, bên ngoài và các quan hệ tương tác giữa chúng. Hệ thống có thể là hệ thống chính trị, hệ thống quản lý, hệ thống pháp luật, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục, hệ thống đường sá.
+ Mô hình cấu trúc là mô hình thé hiện các thành phần bên trong của hiện tượng sự vật. Không nhất thiết hiện tượng sự vật đó có là hệ thống hoặc không phải là hệ thống. Ví dụ một mô hình cấu trúc về quá trình sản xuất trong doanh nghiệp có thê chứa đựng cả những quá trình làm phá hỏng tính hệ thống, làm lãng phí các nguồn lực. + Mô hình lôgic là mô hình thé hiện chủ yếu thứ tự diễn ra các hiện tượng sự vật.
Mô hình lôgIc còn có tên gọi khác là mô hình mạng lưới. Mô hình lôgic rất hữu ích dé thé hiện quá trình sản xuất có rất nhiều công việc diễn ra đồng thời hoặc nối tiếp, thể hiện trình tự nghiên cứu giải quyết vấn đề trong khoa học, thể hiện các bước lập kế hoạch tối ưu. + Mô hình toán là mô hình dựa vào các công cụ toán học như công thức, đồ thị, bảng biểu để thể hiện các mối quan hệ về lượng năm trong các hiện tượng sự vật được nghiên cứu. Mô hình toán là sự phát triển bậc cao của quá trình mô hình hóa.
+ Mô hình kết hợp là mô hình có tính đồng nhất hoặc tương đồng với cấu trúc của đối tượng được mô tả. Hay mô hình kết hợp là sự kết hợp các thuộc tính, cùng chung một hay một số thuộc tính của sự vật giống nhau dé đi đến một mô hình lý tưởng. Khái niệm về hoạt động R&D + Khái niệm vê nghiên cứu khoa hoc: “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là khám phá, phát hiện bản chất sự 19 vật, phát triển nhận thức khoa học về thé giới, hoặc sảng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới dé cải tạo thé giới ” [6]. Hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) là các hoạt động có hệ thống, được liên quan chặt chẽ với việc sản xuất, nâng cao kiến thức, truyền bá, hay ứng dụng các tri thức vào lĩnh vực KH&CN.
Nghiên cứu khoa học bao gồm ba hoạt động chính, đó là: - Hoạt động nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản và ứng dụng) và triển khai, viết tắt là R&D (Research & technical Development). - Hoạt động dich vu khoa hoc va công nghệ - Hoạt động chuyền giao công nghệ. + Nghiên cứu cơ bản: đó là những nghiên cứu nhăm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật này với sự vật khác. Sản phẩm là các khám phá, hay phát minh, để đưa đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau.
+ Nghiên cứu ứng dụng: do là sự vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, tạo nên nguyên lý mới về các giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuât và đời sông. + Giải pháp: đó là một giải pháp về mặt công nghệ, về vật liệu, về tổ chức hay trong quan ly. Nhưng dé đưa được kết quả của nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng trong đời sống xã hội thì còn phải qua một giai đoạn nghiên cứu khác, gọi là nghiên cứu triển khai. + Triển khai: đó là sự vận dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) dé đưa ra các hình mẫu, quy trình sản xuất với những tham số khả thi về kỹ thuật.
Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu này được thể hiện trong hình 1. 20 Nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu cơ bản v Nggahiêren n cucú u nen tang Nghiên cứu co ban định hướng Nghiên cứu Nghiên cứu chuyên dé ứng dụng / Tạo vật mẫu Triển khai \ Tạo quy trình Sản xuất thử Hình 1. Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu [6] Hoạt động triển khai gồm 3 bước chính: - Bước |: tạo vật mau (Prototype), bước nay chỉ làm ra các vật mâu, chi được thực hiện trong các phòng thí nghiệm. - Bước 2: tạo quy trình sản xuất (Pilot), bước này chỉ xây dựng quy trình sản xuất sản phẩm mẫu, được tiễn hành ở các xưởng thực nghiệm, thuộc viện hoặc xí nghiệp sản xuât.
- Bước 3: sản xuất thử (Loat 0) đây là bước cuối cùng, thử nghiệm cuối cùng, nhằm khăng định khả năng thực thi quy trình chế tạo và áp dụng trong sản xuất. Ngành Dược Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển theo chiều dài lịch sử của đất nước, từ khi còn sản xuất thuốc thủ công cho đến khi hội nhập với nền công nghiệp dược thế giới và mang một số đặc điểm chủ yếu sau trong hoạt động nghiên cứu và triển khai. Khái niệm về mô hình doanh nghiệp Spin-off Mô hình doanh nghiệp Spin-off là doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở áp dụng vào thực tiễn các kết quả, thành công trong nghiên cứu KH&CN. Các kết quả NCKH này được hình thành từ các Viện nghiên cứu, các trường đại học, các tô chức nghiên cứu tư nhân, hoặc tự cá nhân.
Doanh nghiệp Spin-off có một số đặc điểm chính sau: - Sở hữu một bí quyết công nghệ cụ thể, có thể áp dụng vào quá trình đổi mới sản phâm hoặc đổi mới một quá trình. - Bí quyết công nghệ này có thé được doanh nghiệp thương mại hóa, với mục đích phục vụ nhu cầu của xã hội và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong ngành Dược, doanh nghiệp Spin-off được hình thành chủ yếu từ hai nguồn chính đó là từ các Viện nghiên cứu Dược va từ các trường đại học Dược. Còn ở các doanh nghiệp lớn, như tập đoàn Dược phẩm, việc hình thành doanh nghiệp Spin-off rất ít, vì thị trường Dược ở Việt Nam chủ yếu là nơi dé các tập đoàn Dược nước ngoài thử nghiệm lâm sàng.
Doanh nghiệp Spin-off trong nganh Dược vẫn chưa tự tách ra khỏi cơ sở mẹ (các viện — trường), chủ yếu vẫn phải dựa vào cơ sở hạn tầng của cơ sở mẹ, tranh thủ trang thiết bị, phòng thí nghiệm và mặt bằng hoạt động. Hoạt động R&D trong các doanh nghiệp Spin-off chủ yếu vẫn do co sở mẹ đặt hàng, cung cấp tài chính, tìm đối tác. Cho nên, khi thành công trong NCKH, cở sở mẹ vẫn là nơi sở hữu các kết quả này, chịu trách nhiệm khi chuyển giao, mua ban. Trong giai đoạn hiện nay, việc hình thành các doanh nghiệp Spin-off trong các cơ quan thuộc ngành Dược đang được quan tâm riết rao.
Đây là vao trò lớn giúp các tô chức KH&CN trong ngành có điều kiện thương mại hóa các kết quá nghiên cứu, thành công trong NCKH. Mặt khác, doanh nghiệp Spin-off giúp cho các tô chức này có thực tiễn trong nghiên cứu, phù hợp với 22 chức năng của mình, gắn kết giữa đào tạo và nghiên cứu. Nhưng hiện trạng chung trong ngành Dược đó là doanh nghiệp Spin-off được thành lập rat ít, và ít có khả năng tự tách ra khỏi cơ sở mẹ, một phần đo thiếu tài chính, hạ tầng, nhân lực,. nhưng đây cũng là ý muốn các nhân của một số nhà khoa học đứng dau trong doanh nghiệp Spin-off , muốn dựa vào cơ sở mẹ dé lách luật và trốn thuế.
Từ đó việc hợp tác với các doanh nghiệp, công ty bên ngoài tổ chức của các viện nghiên cứu, các trường đại học trong ngành Dược là điều tất yếu, thúc day sự phát triển của các tổ chức này. Mô hình kết hợp hoạt động R&D Là mô hình kết hợp hoạt động R&D giữa một tổ chức độc lập nghiên cứu KH&CN với một đơn vị chuyên về sản xuất (có thé là trường đại học, viện nghiên cứu với công ty, doanh nghiệp sản xuất). Mô hình kết hợp hoạt động R&D giữa hai đơn vi trong cùng ngành Dược dựa trên cơ sở cùng một sản phẩm đó là thuốc chữa bệnh. Một đơn vị mạnh về nghiên cứu kết hợp với một đơn vị sản xuất, một bên chuyên nghiên cứu, một bên chuyên về sản xuất sản phẩm, cùng bù đắp những ưu khuyết điểm trong hoạt động R&D cho nhau.
Bởi vì đây là đơn vị, tổ chức có cùng một nguồn gốc, và sản phẩm thương mại hóa, có điểm giống nhau đó là thuốc chữa bệnh. Với mô hình kết hợp hoạt động R&D này sự phát triển và lớn mạnh của mô hình phụ thuộc vào sự tiễn bộ trong hoạt động NCKH, trong sản xuất của hai đơn vị này. Tuy nhiên, trong mô hình này, sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN trong giai đoạn hiện này không còn là yếu tố ngoại sinh nữa mà là yếu tô nội sinh trong từng tổ chức NCKH.