Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM Dạy học theo hướng phát triển năng lực đã và đang trở thành xu thế tất yếu và phổ quát trong nền giáo dục trên thế giới, đặc biệt là giáo dục đại học. Xu hướng chung của dạy học theo hướng phát triển năng lực là chuyển từ “tập trung vào kiến thức” sang “tập trung vào năng lực học” [1]. Trong xu hướng này, đánh giá theo hướng phát triển năng lực (đánh giá năng lực) được xem là mắt xích quan trọng tạo nên sự thành công của quá trình dạy học.
Với ý nghĩa như trên, đánh giá năng lực đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước. Các nghiên cứu về đánh giá năng lực tập trung vào một số hướng nghiên cứu chính sau: 20 Luan van Thứ 1: Xác định nội hàm khái niệm đánh giá năng lực Trên thế giới, nhiều nhà nghiên cứu đã có quan điểm thống nhất khi xem đánh giá năng lực là quá trình thu thập các minh chứng về chuẩn năng lực kiến thức và kỹ năng đã được dự kiến. A, đánh giá năng lực là một hình thức đánh giá dựa vào các mục tiêu dạy học đã được xác định, trên cơ sở đó giảng viên, sinh viên và các bên liên quan đều có thể đưa ra các kết quả đánh giá khách quan đối với các thành tích đã đạt hoặc chưa đạt được so với mục tiêu và chứng nhận sự tiến bộ của sinh viên dựa trên các minh chứng về kết quả đã đạt được. Đánh giá năng lực không bị giới hạn trong chương trình môn học [35].
Quan điểm về đánh giá năng lực của Wolf. A tập trung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập các mục tiêu dạy học rõ ràng, cụ thể, đo lường được và thực hiện được để các bên tham gia đánh giá sẽ đánh giá một cách chính xác và khách quan các kết quả mà người học đã đạt được. Đề cập tới đánh giá năng lực, tài liệu hướng dẫn đánh giá năng lực trong giáo dục và đào tạo nghề ở Tây Úc đã chỉ rõ, đánh giá năng lực là quá trình thu thập các chứng cứ và đưa ra đánh giá về các kết quả của người học. Các đánh giá này khẳng định mức độ đạt được mục tiêu dạy học phù hợp với các tiêu chuẩn năng lực của nghề (hoặc các mục tiêu dự định của môn học nếu không có chuẩn năng lực của nghề) của người học [17].
Tại Việt Nam, đánh giá năng lực được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu (Nguyễn Công Khanh, Đào Thị Oanh, Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương. Nhìn chung, các học giả cũng có sự thống nhất khi cho rằng, đánh giá năng lực cần dựa trên các kết quả người học đã thu nhận được từ quá trình học tập, từ trải nghiệm cuộc sống và mức độ vận dụng tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, giá trị. vào giải quyết các tình huống thực tiễn. Nói cách khác, đánh giá năng lực cần tập trung vào mục tiêu đánh giá sự tiến bộ của người học so với chính họ hơn là so sánh, xếp hạng giữa những người học với nhau (Nguyễn Lộc, Nguyễn Công Khanh) [1, 2.
Dựa trên quan điểm cho rằng, để đánh giá khả năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học cần tiến hành thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cách thực, Nguyễn Công Khanh đã đưa ra quan niệm về đánh giá năng lực như sau: “Đánh giá năng lực là đánh giá các khả năng học sinh áp dụng 21 Luan van kiến thức, kỹ năng đã học được vào giải quyết các tình huống thực tiễn của cuộc sống hàng ngày” [1]. Khác với Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Lộc và cộng sự đã xem vấn đề đánh giá năng lực không chỉ nhằm đánh giá về sự phát triển năng lực của người học mà còn hướng tới điều chỉnh hoạt động dạy và hoạt động học: “Đánh giá năng lực là quá trình thu thập, phân tích, xử lý và giải thích chứng cứ về sự phát triển năng lực của người học, xác định nguyên nhân, đưa ra các biện pháp cải thiện việc dạy và học dựa theo chuẩn thực hiện” [1, 2. Nguyễn Thị Lan Phương và cộng sự (2016) cũng có cùng quan điểm khi cho rằng: “Đánh giá năng lực người học là quá trình thu thập, phân tích, xử lý và giải thích chứng cứ về sự phát triển năng lực của người học; xác định nguyên nhân, đưa ra những biện pháp cải thiện việc dạy và học dựa theo chuẩn thực hiện” [9]. Như vậy, mặc dù cách tiếp cận vấn đề khác nhau, song các nhà nghiên cứu đều cho rằng, đánh giá năng lực là một hình thức đặc biệt của đánh giá kết quả học tập (Nguyễn Lộc), là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng (Nguyễn Công Khanh) nhằm xác định mức độ năng lực của người học đạt đạt được so với mục tiêu của môn học, chương trình học hoặc các tiêu chuẩn năng lực của một lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể.
Thứ 2: Nghiên cứu về các phương pháp đánh giá năng lực Đánh giá năng lực được thực hiện thông qua các phương pháp đánh giá cụ thể trong lớp học. Vì vậy, các nghiên cứu về phương pháp đánh giá năng lực đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như Angelo. Đi đầu trong hướng nghiên cứu này phải kể đến công trình nghiên cứu của Angelo. P (1993) trong tác phẩm Phương pháp đánh giá trong lớp học: Sách cẩm nang cho giảng viên các trường đại học.
Trong nghiên cứu này, các tác giả đã giới thiệu 50 phương pháp đánh giá trong lớp học và phân loại cụ thể các phương pháp đánh giá tương ứng với 03 nhóm sau [13]: - Nhóm phương pháp đánh giá kiến thức và kĩ năng liên quan tới khóa học (27 phương pháp): điểm chưa rõ, bài tập một phút, bản đồ khái niệm. 22 Luan van - Phương pháp đánh giá thái độ, giá trị của người học và tự đánh giá (13 phương pháp): khảo sát ý kiến, hồ sơ thần tượng, phân tích quá trình. - Phương pháp đánh giá các phản hồi của người học về quá trình dạy học (10 phương pháp): phản hồi qua thư điện tử, phản hồi hướng dẫn nhóm, đánh giá hoạt động nhóm. Các tảc giả cũng mô tả chi tiết đặc điểm của 50 phương pháp đánh giá, mục đích sử dụng và gợi ý sử dụng các phương pháp này để đánh giá các năng lực của người học.
Trong tác phẩm “Cẩm nang đánh giá trong lớp học: Học tập, thành tích và điều chỉnh”, Gary D.Phye đã phân tích các phương pháp đánh giá năng lực được áp dụng trong lớp học như sau [21]: - Hồ sơ học tập: Hồ sơ học tập là phương pháp đánh giá trong lớp học bao gồm các các lưu trữ về các hoạt động học tập và sự phản ánh. Hồ sơ học tập của từng sinh viên cho thấy sự trưởng thành, lòng tự trọng, khả năng viết, khả năng đánh kết quả học tập của bản thân và bạn học của chính sinh viên đó. - Đánh giá hoạt động hợp tác nhóm: Phương pháp đánh giá hoạt động hợp tác nhóm không chỉ đánh giá năng lực giải quyết vấn đề của sinh viên mà còn chỉ ra chất lượng hợp tác nhóm. - Phỏng vấn: Phương pháp phỏng vấn được thực hiện với 1 hoặc 2 sinh viên trong cùng một thời điểm để thu thập thông tin về năng lực trình bày vấn đề và năng lực giải quyết vấn đề của sinh viên.
Thông tin thu được từ phỏng vấn được đánh giá bằng bảng kiểm, báo cáo tổng hợp hoặc băng ghi âm. - Bản đồ khái niệm: Phương pháp này dùng để đánh giá năng lực gắn kết các khái niệm/thuật ngữ cơ bản với kiến thức tổng thể của cả môn học/chương trình học. - Tập san: Tập san là một hình thức của đánh giá sáng tạo, giúp giảng viên thu thập các thông tin về năng lực tư duy bậc cao của người học. - Đánh giá theo tiêu chí (Rubrics): Rubrics cung cấp các phản hồi toàn diện về các khía cạnh khác nhau của các năng lực cần hình thành ở sinh viên trong quá trình dạy học.
Ví dụ: đối với năng lực giải quyết vấn đề, rubric cung cấp các 23 Luan van thông tin phản hồi về mức độ hiểu vấn đề, năng lực lập kế hoạch và giải quyết vấn đề của sinh viên. Đề cập tới các phương pháp đánh giá năng lực người học, Fisher. N (2007) tập trung phân tích các phương pháp như sử dụng ngôn ngữ nói, câu hỏi nhận thức, kĩ thuật viết, dự án và sự thực hiện, trắc nghiệm khách quan. Trong nghiên cứu này, để đo lường mức độ hiểu vấn đề của sinh viên, Fisher.
N đã áp dụng phương pháp sử dụng ngôn ngữ nói qua gắn kết sinh viên trong các hoạt động hội thoại để xác định sinh viên có làm theo chủ đề học tập đã được yêu cầu, sử dụng thông tin chính xác và phù hợp với chủ đề, tư duy sâu về các nội dung bạn học đã đề cập trong chủ đề. Về phương pháp đặt câu hỏi nhận thức, Fisher. N khuyến khích giảng viên thiết kết các câu hỏi đánh giá gắn kết với thang đo nhận thức của B. Các câu hỏi phải tạo ra các cơ hội để sinh viên tư duy ở các mức độ khác nhau thay vì chỉ nhớ các thông tin [20].
Bên cạnh 02 phương pháp đã phân tích ở trên, kết quả học tập thông qua viết là minh chứng rõ nét nhất về sự thể hiện mức độ tư duy bậc cao ở người học. Dẫn theo tài liệu Khung đánh giá quốc gia về tiến trình giáo dục, Fisher. N đã xác định các phương pháp viết thường được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của sinh viên [20]: - Viết tường thuật: Sản phẩm bài viết là sự tưởng tượng và sáng tạo câu chuyện. - Viết thông tin: Sản phẩm bài viết là các thông tin cung cấp cho người đọc.
- Viết thuyết phục: Sản phẩm bài viết là tìm kiếm các cách thức thuyết phục người đọc thực hiện các hành động hoặc thay đổi nhận thức.