Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Hướng nghiên cứu về phương pháp dạy học và phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực 1. Nghiên cứu về phương pháp dạy học Vấn đề PPDH đã được bàn đến từ rất sớm trong lịch sử, thường gắn liền với tên tuổi các nhà giáo dục nổi tiếng như Socrate hay Khổng Tử.
Mặc dù, không xây dựng được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, nhưng những tư tưởng về PPDH như “Đàm thoại” của Socrate, hay phát huy tính tích cực chủ động của người học, học đi đôi với hành, dạy học sát đối tượng của Khổng Tử [89] vẫn còn nguyên giá trị. Cùng với sự phát triển của khoa học giáo dục, PPDH được nghiên cứu một cách đầy đủ vào thế kỷ XVII, người đặt nền móng là Jan Amos Comensky (1592 - 1670) [10]. Khi bàn về PPDH, Comensky đã kịch liệt phê phán PPDH giáo điều, kinh viện, chỉ dựa vào sách vở mà nhồi sọ, bắt học sinh học thuộc lòng, đồng thời ông chủ trương đưa vào dạy học những PPDH mới, đòi hỏi người học phải nắm được bản chất của sự vật. Từ đó ông kêu gọi: Hãy tìm ra các PPDH cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn, học sinh phải mở mang tài năng của mình bằng khả năng độc lập của họ.
Những tư tưởng tiến bộ về PPDH của Comensky được ông gửi gắm trong nhiều tác phẩm, tiêu biểu là “Phép dạy học vĩ đại”. Ilina (1973) trong sách “Lý luận dạy học” [44] đã phân tích mối quan hệ giữa PPDH với mục đích, nhiệm vụ dạy học để chỉ ra: Trong mối quan hệ đó, PPDH luôn bị qui định bởi những mục đích và nhiệm vụ dạy học. Khi mục đích, nhiệm vụ dạy học thay đổi thì PPDH cũng thay đổi. Với điểm tựa khoa học đó, ông đã đưa ra cách phân loại các PPDH khá hoàn chỉnh, tuy nhiên ông cũng khuyến cáo khi lựa chọn PPDH cần phải xuất phát từ nội dung, điều kiện cơ sở vật chất, đặc điểm tâm lý lứa tuổi và khả năng của giáo viên, đồng thời phải chú ý thúc đẩy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của người học.
Nghiên cứu về PPDH trong nền giáo dục Xô Viết còn có các tác giả Đannilốp M. Xêrê-Bri-an-ni-cốp [56] và V. luan an 14 Ở Mỹ và các nước Tây Âu, nghiên cứu về PPDH cũng được các nhà giáo dục hết sức quan tâm với nhiều hướng tiếp cận. Tiêu biểu là John Dewey (1858 - 1952), với tư tưởng cơ bản: “Giáo dục là bản thân cuộc sống” và điểm tựa là thuyết “Thực dục luận”, ông đã chủ trương phát triển một nền giáo dục gắn liền lý thuyết với thực tiễn, tư tưởng này đã được các nhà giáo dục Mỹ và các nước Tây Âu tiếp thu, vận dụng và phát triển thành trào lưu đổi mới trong đào tạo nghề vào những năm 70 của thế kỷ XX.
Trong lĩnh vực PPDH, Jonh Deway đã có những cống hiến to lớn bởi ngoài việc chỉ ra hai đặc trưng cơ bản là: Tính thống nhất giữa nội dung và phương pháp; giữa tính phổ biến và tính cá nhân của phương pháp, thì ông còn là người khởi xướng cho việc vận dụng các PPDH tích cực. Tư tưởng về PPGD được Jonh Dewey thể hiện sâu sắc trong sách “Dân chủ và giáo dục” [15]. Edward De Bono (1985) - tác giả của phương pháp sáng tạo như: tư duy chiều ngang, sáu chiếc mũ tư duy. Sáu chiếc mũ tư duy là PPDH sáng tạo được Edward De Bono trình bày trong cuốn “Six Thinking Hats” (Sáu chiếc mũ tư duy) [126].
Với những ưu điểm nổi bật khi áp dụng vào dạy học, phương pháp “6 chiếc mũ tư duy” đã được phát triển và giảng dạy ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều tổ chức lớn như: IBM, Federal Express, Brtish Airways., đã ứng dụng đem lại hiệu quả thiết thực. Gần đây là cuốn sách “Các phương pháp dạy học hiệu quả” [60], của các tác giả Robert J. Pollock (2011) cũng là công trình khá mới mẻ trong việc chỉ dẫn cách vận dụng PPDH mang lại hiệu quả cao. Ở Việt Nam, PPDH cũng được nhiều tác giả nghiên cứu công phu, tiêu biểu là tác giả Lê Nguyên Long (1999) với sách “Thử đi tìm phương pháp dạy học học hiệu quả” [54] đã tập trung phân tích mối quan hệ giữa nhân tố PPDH với các nhân tố khác trong cấu trúc của QTDH, từ đó chỉ ra ba nhân tố cơ bản trực tiếp chi phối đến PPDH đó là: Mục đích, nội dung và đối tượng dạy học.
Trong mối quan hệ đó mục đích dạy học luôn chi phối đến nội dung, thông qua nội dung quyết định đến PPDH, với những nội dung khác nhau thì đòi hỏi phải có PPDH khác nhau, hay nói cách khác PPDH phải chứa đựng tính chất của nội dung dạy học. Tác giả Phan Trọng Ngọ (2005) với sách “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” [66] đã chỉ ra cấu trúc của PPDH gồm: Hướng tiếp cận đối tượng luan an 15 hay quan điểm về học tập; nội dung lý luận của phương pháp; hệ thống biện pháp kỹ thuật và các thủ thuật có tính sáng tạo. Các yếu tố đó có quan hệ nhân quả với nhau, trong đó yếu tố thứ nhất có vai trò quan trọng trong chỉ đạo việc lựa chọn PPDH cụ thể và các phương tiện dạy học phù hợp. Trên cơ sở đó, ông khẳng định: Để xây dựng và sử dụng có hiệu quả các PPDH cần phải đặc biệt lưu ý đến quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và PPDH; quan hệ giữa đối tượng học tập, người dạy và người học.
Quan tâm hơn về mặt giá trị, các tác giả Đặng Thành Hưng, Trịnh Thị Hồng Hà, Nguyễn Khải Hoàn và Trần Vũ Khánh [41] cho rằng: Một PPDH hiện đại phải có tác dụng chuyển những giá trị “dạy người khác muốn học; dạy người khác biết học; dạy người khác kiên trì học tập; dạy người khác học tập có kết quả” [41, tr.35] sang bình diện hành động, sang hình thái hiện thực, nhờ vậy gây được ảnh hưởng vật chất đến người học và quá trình học tập. Nghiên cứu về PPDH còn có tác giả Thái Duy Tuyên [107]; Nguyễn Đức Trí và Hồ Ngọc Vinh [ 95], tác giả Vũ Hoa Tươi [109]; tác giả Phạm Viết Vượng [120]; tác giả Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường [62] và các tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức [35]. Các tác giả đều thống nhất coi PPDH là một thành tố quan trọng trong cấu trúc của QTDH, xét đến cùng quyết định đến chất lượng dạy học. Bên cạnh đó, các tác giả còn chỉ ra bản chất, cấu trúc, nội dung, tính đối tượng cũng như bình diện các cấp độ khác nhau của PPDH.
Nghiên cứu về PPDH ở nhà trường quân đội, tác giả Lê Minh Vụ (2005) trong sách “Hoàn thiện phương pháp dạy học các môn khoa học xã hội nhân văn trong nhà trường quân đội” [117], từ việc chỉ ra bản chất QTDH đại học, đã đặt ra những yêu cầu cần thiết với PPDH ở đại học: (1) PPDH ở đại học phải tiếp cận với phương pháp nghiên cứu khoa học; (2) PPDH phải có định hướng nghề nghiệp rõ ràng; (3) PPDH đại học phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết với thực hành, hướng vào phát huy cao độ tính tích cực, độc lập nhận thức của người học. Cùng với quan điểm này còn có tác giả Nguyễn Đình Minh, Nguyễn Văn Chung (2010) với sách “Vận dụng phương pháp dạy học ở nhà trường quân sự” [64]. Tác giả Trần Đình Tuấn (2013) (chủ biên) giáo trình “Lý luận dạy học đại học quân sự” [106] luận giải: QTDH đại học quân sự bao gồm: Hoạt động dạy và hoạt động học trong đó giảng viên phải có cách thức dạy, học viên phải có cách thức học; hai cách thức đó hợp thành PPDH nhằm thực hiện có hiệu quả mục đích, luan an 16 nhiệm vụ dạy học đã xác định. Bên cạnh các nghiên cứu trên, vấn đề PPDH ở nhà trường quân đội nói chung, ở đại học quân sự nói riêng còn nhận được sự quan tâm trong các cuốn sách của tác giả: Nguyễn Chính Trung [97]; Lê Minh Vụ, Hoàng Đình Châu [118].
Gần đây là kỷ yếu “Phương pháp dạy học các môn Khoa học Xã hội và Nhân văn trong các nhà trường quân đội” [12], do Tổng cục Chính trị phát hành. Nghiên cứu về phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực Tác giả Ph. Gônôbôlin (1976) với sách “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” [30] có cái nhìn tổng quát, sâu sắc về năng lực của người giáo viên trong Nhà trường Xô Viết. Theo tác giả, năng lực sư phạm là một loại năng khiếu đặc biệt, giúp cho người giáo viên hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ giảng dạy của mình.
Trên cơ sở tiếp cận QTDH, giáo dục của người giáo viên, tác giả phân chia năng lực của người giáo viên thành năng lực dạy học và năng lực giáo dục, đồng thời khẳng định: Năng lực của người giáo viên được hình thành từ nhiều con đường khác nhau, nhưng con đường quan trọng nhất, chủ yếu nhất đó chính là quá trình hoạt động sư phạm của họ cùng với sự nỗ lực, sáng tạo không mệt mỏi. Vì vậy, QTDH ở nhà trường bên cạnh giúp người học lĩnh hội được tri thức cần phải tạo được những điều kiện thuận lợi, kích thích tính độc lập, sáng tạo của người học [30, tr. Sách “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường” [81], tác giả Xavier Roegiers (1996) đã chỉ ra nhiệm vụ của nhà trường ngoài việc trang bị cho học sinh những kiến thức đơn thuần thì cần phải tập trung dạy cho học sinh có khả năng tìm kiếm, quản lý thông tin và tổ chức kiến thức, đồng thời phải biết cách sử dụng kiến thức của mình vào giải quyết các tình huống có ý nghĩa. Từ đó ông khẳng định: “…nhà trường cần phát triển những năng lực ở học sinh” [81, tr.
Cách thức để PTNL là phải xây dựng CTĐT theo quan điểm tích hợp và sử dụng các PPDH yêu cầu người học tích hợp được các kiến thức thông qua các tình huống dạy học bằng hoạt động độc lập, hoạt động nhóm và KTĐG [81, tr. Ngoài các nghiên cứu trên còn có các tác giả: Kixegof X.Xêrê-Bri-an-nhi-cốp [56]. Các tác giả đã bàn đến kỹ năng giảng dạy của giáo viên và đề xuất các PPDH nhằm PTNL tư duy cho người học. luan an 17 Ở các nước phương Tây, nghiên cứu về các PPDH theo PTNL được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX, tiêu biểu là tác giả William E.