Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Khoa học giáo dục với đề tài "Thiết kế tình huống dạy học các học phần phương pháp dạy học môn Toán cho sinh viên đại học ngành sư phạm Toán theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện" được xây dựng trong bối cảnh đổi mới giáo dục đại học và đào tạo giáo viên tại Việt Nam. Văn bản căn cứ trên Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (chuyển từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực, phẩm chất người học) cùng quy định của Luật Giáo dục (2010) về mục tiêu đào tạo đại học gắn liền với năng lực thực hành nghề nghiệp.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện (NLTH - Competency-Based Education / CBE) là xu thế phổ biến trên thế giới (được triển khai tại Mỹ, Anh, Úc...). Tại Việt Nam, việc áp dụng mô hình này gặp khó khăn do thiếu hệ thống cơ sở lí luận hoàn chỉnh. Thực trạng đào tạo giáo viên Toán theo học chế tín chỉ tại các trường đại học sư phạm cho thấy việc rèn luyện kĩ năng dạy học cho sinh viên còn thiếu bài bản, thời gian soạn giáo án và tập giảng còn ít, quy trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chưa được chuẩn hóa, khiến sinh viên lúng túng khi thực tập và tiếp cận công việc thực tế tại trường phổ thông.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về phát triển năng lực nghề nghiệp hoặc dạy học theo dự án cho sinh viên Sư phạm Toán, nhưng trước thời điểm thực hiện đề tài, chưa có luận án tiến sĩ nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề phát triển năng lực thực hiện cho sinh viên ngành Sư phạm Toán thông qua thiết kế tình huống dạy học các học phần Phương pháp dạy học (PPDH) môn Toán.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn để thiết kế một số tình huống dạy học nhằm phát triển năng lực dạy học cho sinh viên đại học ngành Sư phạm Toán; tổ chức dạy học theo các tình huống đã thiết kế trong quá trình giảng dạy các học phần PPDH môn Toán ở trường đại học theo hướng tiếp cận NLTH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.

Giả thuyết khoa học

Có thể rèn luyện và phát triển được NLTH cho sinh viên Sư phạm Toán trong dạy học các học phần Lí luận và PPDH Toán thông qua các tình huống dạy học, bởi vì NLTH có thể được hình thành và phát triển thông qua quá trình hoạt động độc lập và cùng nhau của sinh viên dưới sự tổ chức, hỗ trợ của giảng viên.

Câu hỏi nghiên cứu

Tác giả xác định 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thiết kế tình huống dạy học các học phần PPDH môn Toán ở các trường đại học đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cận NLTH căn cứ trên cơ sở lí luận nào?
  2. Thực trạng việc tổ chức dạy học các học phần PPDH môn Toán tại các trường đại học đào tạo giáo viên theo hướng tiếp cận NLTH hiện nay ra sao?
  3. Các tình huống dạy học các học phần PPDH môn Toán ở trường đại học theo hướng tiếp cận NLTH được thiết kế và thực hiện theo quy trình như thế nào?
  4. Việc dạy học các học phần PPDH môn Toán ở trường đại học theo hướng tiếp cận NLTH như quy trình đã đề xuất trong đề tài có đảm bảo tính khả thi và cần thiết?

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Một số tình huống dạy học các học phần PPDH môn Toán ở trường đại học theo tiếp cận NLTH.
  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học các học phần PPDH môn Toán ở trường đại học theo tiếp cận NLTH.
  • Phạm vi không gian nghiên cứu: Khảo sát và thực nghiệm tại 8 cơ sở giáo dục đại học: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Trường Đại học Tây Bắc, Trường Đại học Vinh, Trường Đại học Hồng Đức, Trường Đại học Tây Nguyên, Trường Đại học Đồng Tháp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu quốc tế

Tác giả tổng thuật các nghiên cứu quốc tế xoay quanh khái niệm năng lực, chuẩn nghề nghiệp và đào tạo theo năng lực thực hiện:

  • Quan niệm về năng lực: González & Wagenaar (2005) coi năng lực là thành tích thể hiện liên tục; Rychen & Salganik (2003) xem năng lực là khả năng huy động các nguồn lực tâm lí xã hội phức hợp (kiến thức, kĩ năng nhận thức/thực tiễn, thái độ, động lực); Koster & Dengerink (2008) nhấn mạnh sự kết hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ, giá trị cho phép giáo viên hành động chuyên nghiệp; Deakin Crick và cộng sự (2008) định nghĩa năng lực là sự tích hợp tri thức, kĩ năng, hiểu biết, giá trị và thái độ; Chương trình giáo dục phổ thông Quebec - Canada (2001) coi năng lực là sự kết hợp linh hoạt kiến thức, kĩ năng, thái độ; Xavier Roegiers (1996) định nghĩa năng lực qua sự tích hợp kĩ năng tác động lên nội dung tình huống; Weinert (2001) nhấn mạnh khả năng nhận thức và tính sẵn sàng hành động; John Erpenbeck và Leontiev nghiên cứu năng lực gắn với tri thức, kinh nghiệm và hành động cá nhân.
  • Cấu trúc năng lực giáo viên: Williamson McDiarmid và cộng sự (2008) tổng hợp các lĩnh vực kiến thức chuyên môn, kiến thức sư phạm môn học, kiến thức chương trình, tâm lí học và thái độ chuyên nghiệp; Woolfolk Hoy và cộng sự (2006) chỉ ra sự chuẩn bị và thực thi hướng dẫn là thách thức trọng tâm trong dạy học; Hội liên hiệp đánh giá và hỗ trợ giáo viên Mỹ (INTASC) với 11 yêu cầu nghề nghiệp; Tiêu chuẩn nghề nghiệp giáo viên của Úc (2011) với 3 lĩnh vực (Kiến thức chuyên môn, Thực hành chuyên môn, Cam kết nghề nghiệp) phân chia theo 4 cấp độ (Tốt nghiệp, Thành thạo, Thành thạo cao, Lãnh đạo); Chuẩn đầu ra giáo sinh của New Zealand và chuẩn giáo sinh của Đức (4 lĩnh vực: Dạy học, Giáo dục, Đánh giá, Đổi mới với 11 năng lực).
  • Cấp độ năng lực thực hiện: L. Zuniga (2004) phân chia NLTH thành 5 mức: Mức 1 (Lao động thông thường, quen thuộc), Mức 2 (Lao động quan trọng trong hoàn cảnh khác nhau, hợp tác nhóm), Mức 3 (Lao động phức tạp, làm việc độc lập và kiểm soát người khác), Mức 4 (Kĩ thuật chuyên môn phức tạp, quản lí nhóm), Mức 5 (Ứng dụng kĩ thuật phức tạp trong nhiều hoàn cảnh, tự chủ cao, chẩn đoán và thiết kế).
  • Đánh giá NLTH của giáo viên môn Toán: Shian Leou (1998) xây dựng bảng đánh giá NLTH của giáo viên Toán gồm 3 nhóm kĩ năng (Kĩ năng dạy học; Kĩ năng tổ chức tài liệu học tập và trình bày bài giảng; Kĩ năng quản lí môi trường học tập) và nhóm Thái độ dạy học. Công trình này được kế thừa và phát triển bởi Kramarski & Michalsky (2010), Michalsky (2012).
  • Lí luận giáo dục tiếp cận NLTH (CBE): Kleickmann và cộng sự (2012), Gatlin, Shunin (2008), Houghton (2001), Loewenberg Ball & Forzani (2009), Lilly (1979), Mahon (quan sát và đóng vai trong tình huống mô phỏng).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Về lí luận năng lực và chuẩn nghề nghiệp giáo viên: Nguyễn Văn Giao (2001), Vũ Dũng (2000), Nguyễn Vũ Bích Hiền và cộng sự (2015), Phạm Minh Hạc, Bernd Meier & Nguyễn Văn Cường (2014), Nguyễn Thị Kim Dung và cộng sự (2014, 2015), Đinh Quang Báo và cộng sự (2016 - xác định 5 nhóm năng lực và 28 tiêu chí chuẩn đầu ra sư phạm), Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT về chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông (5 tiêu chuẩn, 15 tiêu chí).
  • Về đào tạo nghề theo tiếp cận NLTH: Nguyễn Đức Trí (1993), Nguyễn Văn Tuấn (2008), Nguyễn Hữu Lam (2004), Đặng Bá Lãm (2006), Đinh Công Khuyến và cộng sự (2008), Nguyễn Ngọc Hùng (2006), Vũ Xuân Hùng (2011), Chử Xuân Dũng (2017 - khảo sát 20 kĩ năng dạy học của giáo viên THPT).
  • Về rèn luyện kĩ năng và phương pháp dạy học Toán: Nguyễn Như An (1993), Phan Thanh Long (2004), Nguyễn Dương Hoàng (2008), Phạm Văn Cường (2010), Nguyễn Bá Kim (2011, 2017), Phan Trọng Ngọ (2015), Đặng Thành Hưng (2006 - kế thừa Saransev, Makhmutov, Lerner).
  • Về phát triển năng lực nghề nghiệp cho sinh viên Sư phạm Toán: Trần Việt Cường (2012 - dạy học theo dự án học phần PPDH môn Toán), Nguyễn Chiến Thắng (2012 - đề xuất 9 kĩ năng nghề nghiệp qua môn Toán sơ cấp và PPDH Toán), Đỗ Thị Trinh (2014 - phân chia năng lực dạy học thành năng lực chuẩn bị và NLTH với 3 nhóm biện pháp, áp dụng kĩ thuật dạy học vi mô), Trần Trung & Trần Việt Cường (2014), Bùi Văn Nghị và cộng sự (2016), Lê Thị Tuyết Trinh (2017), Lê Minh Cường (2017).

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án kế thừa các công trình đi trước nhưng lựa chọn hướng tiếp cận riêng: tập trung trực tiếp vào việc mô tả, lượng hóa NLTH của sinh viên ngành Sư phạm Toán thành các kĩ năng quan sát, đo lường được; xây dựng hệ thống tình huống dạy học có cấu trúc 3 phần và quy trình tổ chức dạy học tình huống chuyên biệt cho các học phần PPDH môn Toán tại trường đại học sư phạm.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi

  • Năng lực thực hiện (NLTH): Là sự giao thoa giữa năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể (theo Bernd Meier & Nguyễn Văn Cường, 2014; Nguyễn Đức Trí, 1993). Luận án tiếp cận NLTH dưới góc độ hệ thống các kĩ năng nghề nghiệp dạy học có thể quan sát và đánh giá được qua hành vi và kết quả hoạt động của người học.
  • Lí luận về tình huống dạy học (CBE): Tình huống dạy học trong đào tạo giáo viên là môi trường học tập chứa đựng nhiệm vụ do giảng viên thiết kế, ủy thác nội dung dạy học để sinh viên tự học, nghiên cứu và hợp tác giải quyết.
  • Thang đo mức độ kĩ năng của Harrow: Ứng dụng lí thuyết phát triển kĩ năng tâm vận gồm 5 mức độ: Mức 1 (Bắt chước), Mức 2 (Làm được), Mức 3 (Làm chuẩn xác), Mức 4 (Làm biến hóa - Phối hợp), Mức 5 (Làm thuần thục).

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu khoa học giáo dục, chuẩn nghề nghiệp giáo viên trong và ngoài nước để xây dựng khung lí luận và cấu trúc NLTH.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp giảng viên giảng dạy PPDH môn Toán tại các trường đại học sư phạm.
  3. Phương pháp khảo sát chuyên gia: Phát phiếu xin ý kiến các nhà nghiên cứu, chuyên gia đầu ngành Lí luận và PPDH môn Toán về tính cần thiết, mức độ quan trọng của các nhóm kĩ năng dạy học.
  4. Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát các giờ học rèn luyện nghiệp vụ, ghi nhận thông tin định tính và định lượng về kĩ năng phân tích chương trình, kế hoạch dạy học, phân tích video, thực hành dạy học vi mô và thái độ học tập của sinh viên.
  5. Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case-study): Chọn nhóm từ 3 đến 5 sinh viên đại diện để theo dõi tiến trình biến đổi và phát triển năng lực qua từng giai đoạn thực nghiệm sư phạm.
  6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Triển khai các tình huống dạy học đã thiết kế vào quá trình dạy học thực tế, kiểm chứng tính khả thi và đo lường sự phát triển NLTH của sinh viên.
  7. Phương pháp thống kê toán học: Xây dựng đề kiểm tra sau thực nghiệm, xử lí và so sánh dữ liệu điểm số giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng để kiểm định giả thuyết khoa học.

Nguồn dữ liệu và mẫu khảo sát

  • Khảo sát thực trạng trên 66 giảng viên có trình độ từ thạc sĩ trở lên trực tiếp giảng dạy học phần PPDH môn Toán tại 8 trường đại học.
  • Phân tích khung chương trình đào tạo ngành Sư phạm Toán của 3 trường đại học đại diện: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (chương trình K64, 135 tín chỉ), Trường Đại học Hồng Đức (120 tín chỉ), Trường Đại học Vinh (132 tín chỉ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn

1. Cơ sở lí luận về NLTH và tình huống dạy học

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm về năng lực sư phạm, năng lực dạy học và năng lực thực hiện. Luận án khẳng định năng lực dạy học là thành phần cốt lõi của năng lực sư phạm, và NLTH của người giáo viên Toán được biểu hiện cụ thể qua hệ thống các kĩ năng dạy học có thể quan sát, đo lường. Dựa trên mô hình đánh giá của Shian Leou (1998) và thang phân loại tâm vận của Harrow, tác giả xác định NLTH của sinh viên Toán gồm 2 nhóm chính: Nhóm kĩ năng phân tích chương trình - thiết kế tài liệu học tập và Nhóm kĩ năng dạy học.

2. Thực trạng phân bổ học phần PPDH môn Toán trong chương trình đào tạo

Tác giả phân tích cấu trúc chương trình đào tạo cử nhân Sư phạm Toán tại các cơ sở đào tạo:

Cơ sở đào tạo Tổng số tín chỉ toàn khóa Số tín chỉ khối PPDH Toán Tỷ trọng khối PPDH Toán
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (K64) 135 tín chỉ (36 TC nghiệp vụ sư phạm) 13 tín chỉ (5 học phần trực tiếp) 9,6% (26,6% tổng khối NVSP)
Trường Đại học Hồng Đức 120 tín chỉ 16 tín chỉ (7 học phần PPDH) 13,3%
Trường Đại học Vinh 132 tín chỉ 17 tín chỉ (6 học phần PPDH) 12,9%

Khối kiến thức PPDH môn Toán chiếm trung bình từ 12,9% đến 13,3% tổng khối lượng chương trình (hoặc 9,6% theo cách tính hẹp tại ĐHSP Hà Nội).

3. Kết quả khảo sát 66 giảng viên về mức độ quan trọng của các kĩ năng

  • Khảo sát Nhóm 1 (Kĩ năng phân tích chương trình và thiết kế tài liệu học tập):

    • Kĩ năng thiết kế kế hoạch dạy học (KN 1.2): 50 giảng viên đánh giá mức 1 (rất quan trọng), điểm trung bình đạt 1,38 (xếp thứ 1).
    • Kĩ năng phân tích chương trình và xác định mục tiêu dạy học (KN 1.1): 45 giảng viên đánh giá mức 1, điểm trung bình đạt 1,41 (xếp thứ 2).
  • Khảo sát Nhóm 2 (Kĩ năng dạy học trên lớp):

Mã KN Nội dung kĩ năng thành phần Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Điểm TB Thứ tự
2.4 Chọn lựa chiến lược dạy học phù hợp giúp HS hiểu rõ khái niệm toán học 59 7 0 0 1,11 1
2.5 Tổ chức các hoạt động tư duy tích cực cho HS 60 4 2 0 1,12 1
2.1 Trình bày bài giảng một cách hiệu quả 56 6 4 0 1,21 2
2.6 Giải thích những sai lầm, khó khăn của HS tại thời điểm thích hợp 52 10 4 0 1,27 3
2.8 Đánh giá quá trình dạy học để đưa ra điều chỉnh kịp thời 45 15 6 0 1,41 4
2.10 Về các kĩ năng trình bày bảng 48 2 16 0 1,52 5
2.2 Giúp HS hiểu mối quan hệ giữa các khái niệm và vận dụng toán học 32 12 22 0 1,85 6
2.3 Nêu rõ mục tiêu và kế hoạch học tập mỗi chủ đề cho HS 25 20 21 0 1,94 7
2.9 Diễn đạt ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng 15 30 10 11 2,26 8
2.7 Thực hiện các hoạt động dạy học một cách hiệu quả 11 10 5 40 3,12 9

Từ kết quả khảo sát thực trạng, tác giả loại bỏ 3 kĩ năng (2.7, 2.9, 2.10) do có sự trùng lặp hoặc chưa phù hợp với thực tiễn giảng dạy đại học, từ đó tinh gọn thành khung 9 kĩ năng thành phần cốt lõi của NLTH:

  1. Phân tích chương trình, xác định mục tiêu dạy học.
  2. Thiết kế kế hoạch dạy học thích hợp.
  3. Trình bày bài giảng hiệu quả.
  4. Giúp học sinh hiểu mối quan hệ giữa kiến thức mới - kiến thức cũ và sự vận dụng.
  5. Nêu rõ mục tiêu và kế hoạch học tập mỗi chủ đề cho học sinh.
  6. Chọn lựa chiến lược dạy học phù hợp giúp học sinh hiểu rõ khái niệm toán học.
  7. Tổ chức các hoạt động tư duy tích cực cho học sinh.
  8. Giải thích những sai lầm, khó khăn của học sinh tại thời điểm thích hợp.
  9. Đánh giá kết quả học tập để điều chỉnh kịp thời cho phù hợp năng lực học sinh.

4. Tiêu chí đánh giá NLTH của sinh viên Sư phạm Toán theo 5 mức độ

Tác giả xây dựng bảng ma trận mô tả chi tiết 9 kĩ năng theo 5 mức độ hình thành kĩ năng của Harrow:

  • Mức 1 (Bắt chước): Thực hiện rập khuôn theo mẫu của giảng viên, chưa thoát li giáo án, còn lúng túng.
  • Mức 2 (Làm được): Tự hoàn thành công việc theo chuẩn cơ bản nhưng đôi khi còn sai sót nhỏ, xử lí được câu hỏi cơ bản của học sinh.
  • Mức 3 (Làm chuẩn xác): Hoàn thành công việc đạt chuẩn quy định không cần giảng viên hướng dẫn; làm chủ tình huống lớp học; kết nối được kiến thức mới và cũ.
  • Mức 4 (Làm biến hóa - Phối hợp): Hoàn thành công việc linh hoạt, phối hợp tốt hoạt động nhóm, phối hợp từ 2 phương tiện dạy học trở lên, sáng tạo kịch bản dạy học phù hợp với nhiều đối tượng học sinh.
  • Mức 5 (Làm thuần thục): Tự lực hoàn toàn, sáng tạo vượt chuẩn quy định, phối hợp từ 3 phương tiện dạy học trở lên, dẫn dắt học sinh kiến tạo tri thức sâu sắc và hỗ trợ đồng nghiệp/bạn học.

Chương 2. Thiết kế tình huống dạy học các học phần PPDH môn Toán ở trường đại học theo tiếp cận NLTH

1. Cấu trúc và đặc điểm của tình huống dạy học

Tác giả xây dựng cấu trúc chung cho một tình huống dạy học gồm 3 phần:

  • Phần Mở đầu: Giảng viên tổ chức lớp thành tập thể, nhóm hoặc giao nhiệm vụ cho cá nhân sinh viên; sinh viên tiếp nhận nhiệm vụ học tập.
  • Phần Nội dung/Triển khai: Giảng viên quan sát, hỗ trợ, kiểm tra quá trình hoạt động; sinh viên tiến hành tự học, làm việc nhóm, thực hiện nhiệm vụ và báo cáo kết quả/thực hành vận dụng.
  • Phần Đánh giá: Giảng viên nhận xét, hỗ trợ sửa chữa sai sót; sinh viên tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và rút kinh nghiệm hoàn thiện.

5 đặc điểm cốt lõi của tình huống dạy học theo tiếp cận NLTH:

  1. Hoạt động thực hành (tay chân hoặc trí óc) hướng tới nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên phổ thông là hoạt động trung tâm.
  2. Đòi hỏi sinh viên phải thực hiện đồng thời yêu cầu lí thuyết và thực hành.
  3. Hoạt động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên là nền tảng (giảng viên giữ vai trò hướng dẫn, hỗ trợ, không làm thay).
  4. Hoạt động hợp tác nhóm là bắt buộc, thường xuyên và là tiêu chí đánh giá năng lực.
  5. Khuyến khích tối đa việc ứng dụng công nghệ thông tin, internet và mạng xã hội để khai thác thông tin.

2. 6 nguyên tắc thiết kế và thực hiện tình huống dạy học

  1. Đảm bảo cấu trúc tương đồng thống nhất giữa các tình huống, khẳng định vai trò chủ thể của sinh viên.
  2. Tình huống được tổ chức diễn ra trong hoặc sau quá trình dạy học các môn thuộc khối Lí luận và PPDH Toán.
  3. Không gian tổ chức linh hoạt: lớp học đại học, trường phổ thông, tuần sinh hoạt nghiệp vụ sư phạm, hội thi nghiệp vụ, hoặc tự học tại nhà.
  4. Tri thức và kĩ năng dạy học phải do chính sinh viên chủ động phát hiện, tranh luận và tự học.
  5. Các kĩ năng dạy học nhất thiết phải được hình thành và rèn luyện thông qua hành động trong tình huống cụ thể.
  6. Mỗi tình huống bắt buộc phải kết hợp hoạt động tự đánh giá của sinh viên và đánh giá từ phía giảng viên/bạn học.

3. Thiết kế hệ thống 4 tình huống dạy học

Luận án thiết kế và thử nghiệm 4 tình huống dạy học cụ thể trong các học phần PPDH môn Toán:

  • Thiết kế tình huống hành động và tình huống kiểm chứng (minh họa qua ví dụ thực tế tại lớp ĐHSP Toán K19 - Trường Đại học Hồng Đức về dạy học nội dung "Vị trí của khái niệm và yêu cầu dạy học khái niệm", phân biệt khái niệm và định nghĩa qua chuỗi 7 hoạt động).
  • Ứng dụng các kĩ thuật dạy học chuyên biệt: phân tích video bài giảng (video analytics), dạy học vi mô (microteaching), dạy học theo dự án và phương pháp đóng vai mô phỏng tình huống sư phạm thực tế.
  • Xây dựng quy trình tổ chức dạy học tình huống gồm các bước rõ ràng từ chuẩn bị học liệu, giao nhiệm vụ, hướng dẫn thảo luận nhóm, thực hành tập giảng đến đánh giá theo tiêu chí chuẩn.

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

1. Mục đích và quy trình thực nghiệm

Chương 3 trình bày việc tổ chức thực nghiệm sư phạm tại các trường đại học nhằm kiểm chứng tính khả thi và cần thiết của 4 tình huống dạy học đã thiết kế, đánh giá mức độ phát triển 9 kĩ năng thành phần của NLTH ở sinh viên.

2. Phương pháp thu thập và xử lí dữ liệu thực nghiệm

  • Tổ chức lớp thực nghiệm và đối chứng: Tiến hành dạy học theo quy trình thiết kế tình huống đối với nhóm thực nghiệm và dạy học theo phương pháp truyền thống đối với nhóm đối chứng.
  • Quan sát sư phạm và nghiên cứu trường hợp: Theo dõi chuyên sâu từ 3 đến 5 sinh viên đại diện (case-study) trong suốt tiến trình thực nghiệm để ghi nhận sự thay đổi về hành vi, mức độ tự tin, khả năng phân tích chương trình và kĩ năng xử lí tình huống sư phạm.
  • Kiểm tra và thống kê toán học: Sử dụng bài kiểm tra đánh giá năng lực sau thực nghiệm, chấm điểm theo rubric 5 mức độ của Harrow, áp dụng các thuật toán thống kê toán học để so sánh kết quả định lượng giữa hai nhóm.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lí luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lí luận về đào tạo theo tiếp cận năng lực thực hiện (CBE) trong đào tạo giáo viên Toán tại các trường đại học sư phạm ở Việt Nam.
  2. Xây dựng khung năng lực thực hiện chuyên biệt cho sinh viên ngành Sư phạm Toán gồm 9 kĩ năng thành phần cốt lõi và hệ thống tiêu chí đánh giá chi tiết theo 5 mức độ (dựa trên lí thuyết kĩ năng tâm vận của Harrow).
  3. Xác lập mô hình cấu trúc của tình huống dạy học trong đào tạo giáo viên gồm 3 phần (Mở đầu, Triển khai, Đánh giá), 5 đặc điểm và 6 nguyên tắc thiết kế nhằm phát triển NLTH cho sinh viên.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng về chương trình đào tạo và thực tế dạy học các học phần PPDH môn Toán tại 8 trường đại học thông qua khảo sát định lượng 66 giảng viên.
  2. Thiết kế hoàn chỉnh 4 tình huống dạy học mẫu trong các học phần PPDH môn Toán.
  3. Xây dựng quy trình tổ chức dạy học theo tình huống có tính ứng dụng trực tiếp, kết hợp các kĩ thuật dạy học vi mô, phân tích video và hoạt động nhóm, giúp giảng viên các trường sư phạm có công cụ rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên.

Đề xuất và giải pháp sư phạm

  • Cần cơ cấu lại nội dung và phương pháp dạy học các học phần PPDH môn Toán theo hướng giảm thuyết giảng lí thuyết hàn lâm, tăng thời lượng thực hành tình huống và tự học.
  • Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá theo hướng kết hợp đánh giá quá trình, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng dựa trên bảng tiêu chí định lượng chuẩn hóa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chuyên sâu vào nhóm kĩ năng dạy học bộ môn Toán trong phạm vi các học phần PPDH môn Toán, chưa bao quát toàn bộ các năng lực sư phạm khác (như năng lực giáo dục chủ nhiệm, năng lực hoạt động xã hội). Phạm vi khảo sát và thực nghiệm giới hạn tại 8 cơ sở đào tạo giáo viên trong nước. Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin chỉ được xem như công cụ hỗ trợ mà chưa được xây dựng thành một nhánh kĩ năng độc lập trong khung đánh giá.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thiết kế tình huống dạy học cho các học phần nghiệp vụ sư phạm khác trong chương trình đào tạo giáo viên Toán; nghiên cứu tích hợp sâu hơn công nghệ số và dạy học trực tuyến vào quy trình rèn luyện NLTH; theo dõi sự phát triển NLTH của sinh viên sau khi tốt nghiệp và giảng dạy tại các trường THPT.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên Lí luận và PPDH môn Toán: Có thể sử dụng trực tiếp khung 9 kĩ năng, bảng tiêu chí đánh giá 5 mức độ và hệ thống 4 tình huống dạy học làm tài liệu giảng dạy, biên soạn giáo trình và tổ chức hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên.
  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lí luận và PPDH môn Toán / Khoa học giáo dục: Là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu đào tạo theo tiếp cận năng lực (CBE), cách thức thiết kế bảng hỏi khảo sát thực trạng, thang đo rubric đánh giá kĩ năng và phương pháp kết hợp nghiên cứu trường hợp (case-study) với thực nghiệm sư phạm.
  • Đối với cán bộ quản lí chương trình đào tạo tại các trường đại học sư phạm: Cung cấp cơ sở thực tiễn và căn cứ khoa học để rà soát, điều chỉnh chuẩn đầu ra và phân bổ thời lượng khối học phần phương pháp dạy học bộ môn trong khung chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khung năng lực thực hiện của sinh viên Sư phạm Toán trong luận án gồm những kĩ năng nào?

Khung năng lực thực hiện do tác giả đề xuất gồm 9 kĩ năng cốt lõi:

  1. Phân tích chương trình, xác định mục tiêu dạy học.
  2. Thiết kế kế hoạch dạy học thích hợp.
  3. Trình bày bài giảng một cách hiệu quả.
  4. Giúp học sinh hiểu mối quan hệ giữa kiến thức mới và cũ cùng sự vận dụng.
  5. Nêu rõ mục tiêu và kế hoạch học tập mỗi chủ đề cho học sinh.
  6. Chọn lựa chiến lược dạy học phù hợp giúp học sinh hiểu rõ khái niệm toán học.
  7. Tổ chức các hoạt động tư duy tích cực cho học sinh.
  8. Giải thích những sai lầm, khó khăn của học sinh tại thời điểm thích hợp.
  9. Đánh giá kết quả học tập để điều chỉnh kịp thời cho phù hợp năng lực học sinh.

2. Tác giả sử dụng lí thuyết nào để lượng hóa các mức độ phát triển kĩ năng dạy học?

Tác giả vận dụng lí thuyết phát triển kĩ năng tâm vận của Harrow để xây dựng 5 mức độ đánh giá:

  • Mức 1: Bắt chước (quan sát và làm theo mẫu).
  • Mức 2: Làm được (tự làm được công việc, còn sai sót nhỏ).
  • Mức 3: Làm chuẩn xác (thực hiện chính xác, đạt chuẩn quy định).
  • Mức 4: Làm biến hóa - Phối hợp (thực hiện linh hoạt và phối hợp nhóm hiệu quả).
  • Mức 5: Làm thuần thục (thực hiện chuẩn xác, tốc độ cao, đạt mức sáng tạo vượt chuẩn).

3. Tỷ trọng các học phần PPDH môn Toán chiếm bao nhiêu phần trăm trong chương trình đào tạo tại các trường được khảo sát?

Theo số liệu khảo sát chương trình đào tạo của tác giả:

  • Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (khóa K64): Khối học phần PPDH môn Toán chiếm 13/135 tín chỉ (9,6% tổng số tín chỉ toàn khóa, chiếm 26,6% khối nghiệp vụ sư phạm).
  • Trường Đại học Hồng Đức: Chiêm 16/120 tín chỉ (13,3%).
  • Trường Đại học Vinh: Chiếm 17/132 tín chỉ (12,9%).

4. Cấu trúc của một tình huống dạy học nhằm phát triển NLTH gồm những phần nào?

Cấu trúc một tình huống dạy học gồm 3 phần:

  1. Mở đầu: Giảng viên tổ chức lớp, chia nhóm và giao nhiệm vụ; sinh viên tiếp nhận nhiệm vụ học tập.
  2. Nội dung/Triển khai: Sinh viên tự nghiên cứu cá nhân, phối hợp nhóm thực hiện nhiệm vụ và báo cáo kết quả; giảng viên theo dõi, hướng dẫn và hỗ trợ.
  3. Đánh giá: Giảng viên và sinh viên cùng tham gia nhận xét, đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm và sửa chữa sai sót.

5. Vì sao tác giả loại bỏ 3 kĩ năng dạy học (2.7, 2.9, 2.10) sau khi khảo sát ý kiến giảng viên?

Qua khảo sát 66 giảng viên, tác giả loại bỏ 3 kĩ năng này vì:

  • Kĩ năng 2.7 (Thực hiện các hoạt động dạy học một cách hiệu quả) bị đánh giá mức độ quan trọng thấp nhất (điểm trung bình 3,12; xếp thứ 9/9).
  • Kĩ năng 2.9 (Diễn đạt ý tưởng, thông tin một cách rõ ràng) và Kĩ năng 2.10 (Về các kĩ năng trình bày bảng) có sự trùng lặp nhất định hoặc đã được tích hợp, hàm ý bên trong kĩ năng 2.1 (Trình bày bài giảng một cách hiệu quả) và kĩ năng thiết kế kế hoạch dạy học.

Kết luận

Luận án đã giải quyết vấn đề rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên ngành Sư phạm Toán thông qua việc tiếp cận lí thuyết giáo dục dựa trên năng lực thực hiện (CBE). Công trình đã chuẩn hóa khung 9 kĩ năng dạy học cốt lõi, xây dựng ma trận đánh giá 5 mức độ theo thang Harrow và đề xuất mô hình tình huống dạy học 3 phần cùng 6 nguyên tắc thực hiện. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và bộ công cụ thực tiễn có giá trị ứng dụng trực tiếp cho quá trình giảng dạy các học phần PPDH môn Toán tại các trường đại học sư phạm hiện nay.