Luận án thiết kế tình huống dạy học các học phần phương pháp dạy học môn toán cho sinh viên đại học sư phạm toán theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện

Tài liệu nghiên cứu Luận án thiết kế tình huống dạy học các học phần phương pháp dạy học môn toán cho sinh viên đại học, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trường Đại Học Sư Phạm

Chuyên ngành

Sư Phạm Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ
177
7
1

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Một số nghiên cứu của nước ngoài

1.2. Một số nghiên cứu của Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ TÌNH HUỐNG DẠY HỌC CÁC HỌC PHẦN PPDH MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NLTH

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thiết kế tình huống dạy học

Thiết kế tình huống dạy học là một phương pháp quan trọng trong giáo dục, đặc biệt trong môn Toán cho sinh viên sư phạm. Mục tiêu chính của việc thiết kế này là phát triển năng lực thực hiện cho sinh viên, giúp họ có khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn. Theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa X, giáo dục cần chuyển từ việc trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giáo dục đại học hiện nay, nơi mà sinh viên cần có khả năng thích ứng với yêu cầu của xã hội. Việc thiết kế tình huống dạy học không chỉ giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện.

1.1. Khái niệm và vai trò của tình huống dạy học

Tình huống dạy học được hiểu là những bối cảnh cụ thể trong quá trình giảng dạy, nơi mà sinh viên có thể áp dụng kiến thức và kỹ năng đã học. Vai trò của tình huống dạy học là rất quan trọng, nó không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về lý thuyết mà còn tạo cơ hội cho họ thực hành và phát triển năng lực thực hiện. Việc áp dụng tình huống dạy học trong môn Toán giúp sinh viên hình thành các kỹ năng cần thiết để giải quyết vấn đề thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên. Theo nghiên cứu, việc sử dụng tình huống dạy học đã được chứng minh là hiệu quả trong việc phát triển năng lực cho sinh viên sư phạm.

II. Phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực

Phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực là một xu hướng giáo dục hiện đại, nhấn mạnh việc phát triển năng lực thực hiện của sinh viên. Phương pháp này không chỉ tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà còn chú trọng đến việc rèn luyện kỹ năng và thái độ của sinh viên. Đặc biệt, trong môn Toán, việc áp dụng phương pháp này giúp sinh viên có thể vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách hiệu quả. Các trường đại học sư phạm cần xây dựng chương trình đào tạo phù hợp, đảm bảo rằng sinh viên có đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp trong tương lai.

2.1. Các nguyên tắc trong thiết kế tình huống dạy học

Trong thiết kế tình huống dạy học, cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản để đảm bảo tính hiệu quả. Đầu tiên, tình huống dạy học phải gắn liền với thực tiễn, giúp sinh viên thấy được sự liên quan giữa lý thuyết và thực hành. Thứ hai, tình huống cần được thiết kế sao cho khuyến khích sự tham gia tích cực của sinh viên, tạo điều kiện cho họ phát triển kỹ năng làm việc nhóm và tư duy phản biện. Cuối cùng, việc đánh giá năng lực thực hiện của sinh viên cần được thực hiện một cách toàn diện, không chỉ dựa vào kết quả học tập mà còn xem xét quá trình tham gia và phát triển của sinh viên trong suốt quá trình học.

III. Thực nghiệm sư phạm và đánh giá hiệu quả

Thực nghiệm sư phạm là một phần quan trọng trong quá trình nghiên cứu và áp dụng tình huống dạy học. Qua thực nghiệm, có thể đánh giá được tính khả thi và hiệu quả của các tình huống dạy học đã thiết kế. Việc thu thập dữ liệu từ thực nghiệm giúp xác định mức độ phát triển năng lực thực hiện của sinh viên, từ đó điều chỉnh và cải tiến phương pháp dạy học. Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng việc áp dụng tình huống dạy học theo hướng tiếp cận năng lực đã mang lại những kết quả tích cực, giúp sinh viên nâng cao kỹ năng và khả năng giải quyết vấn đề.

3.1. Đánh giá thực trạng dạy học môn Toán

Đánh giá thực trạng dạy học môn Toán tại các trường đại học sư phạm cho thấy nhiều khó khăn trong việc áp dụng phương pháp dạy học hiện đại. Sinh viên thường gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn, do đó cần có sự thay đổi trong cách thức giảng dạy. Việc thiết kế tình huống dạy học phù hợp sẽ giúp sinh viên có cơ hội thực hành và phát triển năng lực thực hiện. Các trường cần chú trọng đến việc xây dựng quy trình rèn luyện kỹ năng cho sinh viên, đảm bảo rằng họ có đủ năng lực để đáp ứng yêu cầu của nghề nghiệp trong tương lai.

25/01/2025
Luận án thiết kế tình huống dạy học các học phần phương pháp dạy học môn toán cho sinh viên đại học sư phạm toán theo hướng tiếp cận năng lực thực hiện

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận án gồm 3 chương: hương 1. ơ sở lí luận và thực tiễn hương 2. hiết kế tình huống DH các học phần PPDH môn oán ở trường đại học theo tiếp cận NLTH hương 3. hực nghiệm sư phạm ài liệu tham khảo và phụ lục 7 Ơ 1 Ơ SỞ LÍ LUẬ À ỰC TIỄN 1.

Một số nghiên cứu của nước ngoài Năng lực được xem như một khái niệm tổng thể - sự kết hợp năng động của kiến thức, sự hiểu biết và KN (hoặc như ở Việt Nam hiện nay thì được coi như sự kết hợp giữa kiến thức, KN, thái độ và thể hiện thông qua H ). ó thể chỉ ra một số khái niệm năng lực của các nhà nghiên cứu nước ngoài như “Một cái gì đó có thể được chứng minh cho một mức độ nhất định của thành tích cùng một sự liên tục” (González & Wagenaar, 2005) [87], hay “Khả năng đáp ứng nhu cầu phức tạp, bằng cách vẽ và huy động các nguồn lực tâm lí xã hội trong bối cảnh - tức là một hệ thống hành động phức tạp bao gồm kiến thức (cũng ngầm); KN nhận thức và thực tiễn; thái độ như động lực, định hướng giá trị, cảm xúc” (Rychen & Salganik, 2003) [106] và “Sự kết hợp của kiến thức, KN, thái độ, giá trị và đặc điểm cá nhân, trao quyền cho giáo viên hành động một cách chuyên nghiệp và thích hợp trong một tình huống, triển khai chúng một cách mạch lạc” (Koster & Dengerink, 2008) [94]. Nhiều học giả quốc tế khác đều đồng thuận và cùng chung quan điểm trên. Họ cho rằng về năng lực - cũng như các yêu cầu cơ bản cho việc giảng dạy gồm có: kiến thức (Knowlegde), kỹ năng nghề nghiệp (Craft Skills) và thiên hướng (Dispositions).

Quan điểm trên tập trung vào các tiềm năng của sự phát triển liên tục và kết quả, gắn liền với mục đích và mục tiêu học tập suốt đời, nó cũng chỉ rõ các yêu cầu cho ba lĩnh vực. ánh giá gần đây của Williamson McDiarmid và cộng sự (2008) tổng hợp các nghiên cứu hiện có, đề cập đến các tính năng sau trong lĩnh vực kiến thức: kiến thức về chủ đề DH; kiến thức SP môn học (hiểu theo nghĩa phục vụ chẳng hạn cho môn oán); kiến thức SP (nói chung); kiến thức về chương trình; cơ sở khoa học giáo dục (kiến thức đa văn hóa, lịch sử, triết học, tâm lí, xã hội học); các khía cạnh theo ngữ cảnh, thể chế, tổ chức của các chính sách giáo dục; vấn đề tổng hợp và đa dạng; công nghệ mới; tâm lí học phát triển; các quy trình và động lực nhóm, học lí thuyết, các vấn đề động lực; các quy trình, phương pháp đánh giá và đánh giá [117]. Tầm quan trọng của ảnh hưởng toàn cầu và tiêu chuẩn chuyên môn gần đây đã mở rộng định nghĩa về thái độ chuyên nghiệp cho GV, những người cần có khả 8 năng quản lí và tạo ra những thay đổi; do đó, các khía cạnh sau đây cần được tính đến: nhận thức luận (tức là về các vấn đề liên quan đến các đặc điểm và phát triển lịch sử của khu vực, chủ đề DH và tình trạng của nó, liên quan đến các lĩnh vực chủ đề khác); khuynh hướng thay đổi; cam kết thúc đẩy việc học tập của tất cả HS (Williamson McDiarmid et all. eakin rick và cộng sự (2008) định nghĩa “Một năng lực được mô tả như là một sự kết hợp phức tạp của kiến thức, KN, sự hiểu biết, các giá trị, thái độ và mong muốn dẫn đến hiệu quả, thể hiện hành động của con người trong một lĩnh vực cụ thể” [82].

ăn bản chính thức hương trình giáo dục phổ thông của tỉnh Quebec Canada (2001) quy định “Năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, KN với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của HĐ trong bối cảnh nhất định” [88]. Theo Xavier Roegiers (1996): “Năng lực là sự tích hợp các k năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra” [75]. Weinert (2001) lại đơn giản coi năng lực là các khả năng và KN nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi [115].

Cuối thế kỷ 20, John Erpenbeck coi “Năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí” (theo [42]). Leonchev, năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một H nhất định. Nghiên cứu của Woolfolk Hoi và cộng sự (2006) cho thấy, sự chuẩn bị và việc thực thi các hướng dẫn trợ giúp HS là hai thách thức chính của H H; hiệu quả của quá trình H có thể được dự kiến thông qua khả năng của trong việc khởi xướng và hỗ trợ H học tạo điều kiện tối đa cho HS đạt được các mục tiêu đã đặt ra. uy nhiên hiệu quả H, không bao giờ được đảm bảo chắc chắn chỉ trên các kế 9 hoạch, vì: (i) dù có chuẩn bị kĩ càng đến đâu, cũng không thể lường được tất cả những diễn biến thực tế, (ii) đối tượng tác động là quá trình học - một quá trình tâm lí diễn biến cực kỳ phức tạp.

hính vì thế, những thành phần của năng lực SP mặc dù có thể liệt kê, hệ thống hóa, có thể dạy được cho S từ trong trường SP, nhưng không thể là những điều kiện đủ đảm bảo thành công trong hoạt động nghề nghiệp tương lai của họ [116]. Theo Hội liên hiệp đánh giá và hỗ trợ GV Mỹ (Interstate New Teachers Assessment and Support Consortium - N AS ) đã đề xuất GV cần đáp ứng 11 yêu cầu [99]. Theo Chuẩn nghề nghiệp GV của Úc (2011) [105], đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá Ngôn ngữ Tiếng Anh và ăn học tại Úc, tiêu chuẩn đánh giá oán xuất sắc và chuẩn để được công nhận nghề nghiệp chuyên nghiệp. ề các cấp độ của NL H,.

Zuniga (2004) phân chia theo 5 mức: Mức 1- hực hiện tốt các H lao động thông thường, quen thuộc; Mức 2 - hực hiện tốt các H lao động quan trọng trong những hoàn cảnh khác nhau. ó thể tự mình thực hiện một số H lao động tương đối phức tạp hoặc các công việc ít gặp. ó khả năng làm việc hợp tác, tham gia nhóm làm việc; Mức 3 - hực hiện các H lao động phức tạp, ít gặp, trong những hoàn cảnh khác nhau. ó khả năng làm việc độc lập cũng như khả năng kiểm soát và hướng dẫn người khác; Mức 4 - ó khả năng thực hiện một cách chắc chắn và độc lập các H lao động kĩ thuật/chuyên môn phức tạp trong những (ca) khó.

ó khả năng tổ chức và quản lí công việc của nhóm và điều phối các nguồn tài nguyên; Mức 5 - Ứng dụng các nguyên tắc trọng yếu và kĩ thuật phức tạp trong nhiều hoàn cảnh lao động khác nhau. ảm đương được những việc thường xuyên đòi hỏi tính tự chủ cao, điều hành công việc của những người khác và kiểm soát các nguồn tài nguyên quan trọng. Ngoài ra cũng có khả năng chẩn đoán, thiết kế, lập kế hoạch và thực thi kế hoạch và đánh giá công việc ([113], tr. Theo Hội đồng GV của New Zealand xây dựng chuẩn đầu ra dựa trên chuẩn nghề nghiệp để đáp ứng đòi hỏi về chất lượng SV tốt nghiệp từ các chương trình đào tạo SP khác nhau.

huẩn này mô tả những tiêu chí mà giáo sinh ở thời điểm tốt nghiệp cần phải có: Kiến thức chuyên môn, thực tiễn chuyên môn, ác giá trị và các mối quan hệ nghề nghiệp (theo [16]). Chuẩn đầu ra đối với SV SP của ức (Germany) gồm 4 lĩnh vực ( H, giáo dục, đánh giá, đổi mới) và 11 năng lực được 10 cụ thể hoá thành các chuẩn. rong lĩnh vực H( là các chuyên gia về dạy và học), có thể chỉ ra 3 năng lực thành phần [96]. Một số nghiên cứu của Việt Nam heo Nguyễn ăn iao (2001): “Năng lực, khả năng, được hình thành hoặc phát triển cho phép một con người đạt thành công trong một HĐ thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp.

Năng lực được thể hiện và khả năng thi hành một HĐ động, thực hiện một nhiệm vụ” [23]. Nguyễn ũ ích Hiền và cộng sự (2015) quan niệm “Năng lực có thể được hiểu là khả năng, là hiệu suất công việc được chứng minh qua kết quả HĐ thực tế và nó liên quan đến kiến thức, KN, thái độ và đặc điểm cá nhân” [25]; Phạm Minh Hạc cho rằng, “Năng lực là tổ hợp các đặc điểm tâm lí của một con người/nhân cách” (theo [5]). ernd Meier và Nguyễn ăn ường (2014) xem năng lực là tổng hợp của kiến thức, KN cũng như quan điểm và thái độ mà một cá nhân đã có để hành động thành công trong các tình huống mới [42]. heo ừ điển âm lí học của tác giả ũ ũng (2000), “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng HĐ nhất định” [18].

heo Nguyễn hị Kim ung và cộng sự (2015): “Năng lực là tổ hợp các kiến thức, KN, thái độ và kinh nghiệm cá nhân cho phép thực hiện cáo trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân” ([16]; tr. ới các nhà nghiên cứu khoa học giáo dục, thuật ngữ “năng lực” được ý niệm rất sớm từ những năm 1970 và có rất nhiều định nghĩa được đưa ra xuất phát từ nhiều hướng tiếp cận trong những bối cảnh khác nhau. ác định nghĩa kể trên mặc dù có sự khác nhau nhưng hầu hết đều có chung một số quan điểm và cũng có thể tách thành hai dạng quan niệm như sau: Thứ nhất, thiên về tâm lí học, coi năng lực là một thuộc tính tâm lí, là đặc điểm nhân cách. Như vậy, việc đánh giá năng lực sẽ là một vấn đề phức tạp, khó thiên về phân tích định tính hơn là định lượng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về thiết kế tình huống dạy học môn Toán cho sinh viên đại học sư phạm theo hướng tiếp cận năng lực" tập trung vào việc phát triển các phương pháp dạy học hiệu quả cho sinh viên ngành sư phạm Toán. Luận án này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế các tình huống dạy học nhằm nâng cao năng lực tư duy và khả năng giải quyết vấn đề của sinh viên. Qua đó, bài viết không chỉ cung cấp những lý thuyết cơ bản mà còn đưa ra các ứng dụng thực tiễn, giúp sinh viên có thể áp dụng kiến thức vào thực tế giảng dạy.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Dạy Học Tam Giác Đồng Dạng Cho Học Sinh Lớp 8: Phát Triển Năng Lực Tư Duy và Lập Luận Toán Học, nơi trình bày các phương pháp dạy học nhằm phát triển tư duy cho học sinh. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ về phát triển năng lực tự học cho sinh viên sư phạm toán qua tình huống điển hình cũng là một tài liệu hữu ích, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách phát triển năng lực tự học trong giảng dạy Toán. Cuối cùng, Dạy học hàm số nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn cho học sinh trung học cơ sở sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc áp dụng lý thuyết vào thực tiễn trong giảng dạy môn Toán. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp dạy học hiện đại và hiệu quả.