Mô Hình Gia Đình Việt Nam Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình Năm 2014

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích mô hình gia đình Việt Nam theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

81
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH

1.1. Khái niệm và bản chất của gia đình

1.2. Khái niệm và vai trò của mô hình gia đình đối với đời sống và pháp luật

1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của các học thuyết về xây dựng mô hình gia đình

1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình gia đình

2. CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG MÔ HÌNH GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

2.1. Những quy định của pháp luật trước đây về mô hình gia đình

2.2. Xác lập quan hệ hôn nhân

2.3. Thiết lập mối quan hệ giữa cha mẹ và con

2.4. Quan hệ của các thành viên trong gia đình với nhau

2.5. Những quy định của luật Hôn nhân và gia đình 2014 về mô hình gia đình

2.5.1. Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình 2014

2.5.2. Quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về Mô hình Gia đình

2.6. Thực trạng mô hình gia đình ở Việt Nam trong thời điểm hiện tại

2.6.1. Những mặt tốt

2.6.2. Những hạn chế còn tồn tại

2.6.3. Những sai lầm thường thấy trong các gia đình

3. CHƯƠNG 3: CÁC KHUYẾN NGHỊ NHẰM XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN MÔ HÌNH GIA ĐÌNH CỦA VIỆT NAM

3.1. Phương hướng hoàn thiện mô hình gia đình cho pháp luật Việt Nam hiện tại

3.2. Các khuyến nghị cho các bên trong việc xây dựng mô hình gia đình

3.2.1. Các khuyến nghị cho các cơ quan xây dựng pháp luật

3.2.2. Các khuyến nghị cho các cơ quan thực hiện pháp luật

3.3. Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức người dân và cộng đồng

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Mô Hình Gia Đình Việt Nam Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014

Mô hình gia đình Việt Nam đã trải qua nhiều biến đổi trong lịch sử và hiện tại, đặc biệt là sau khi Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 có hiệu lực. Luật này không chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình mà còn phản ánh những giá trị văn hóa truyền thống của người Việt. Gia đình được xem là tế bào của xã hội, nơi hình thành và giáo dục nhân cách cho thế hệ tương lai.

1.1. Khái Niệm Về Gia Đình Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014

Theo Điều 3, Khoản 2 của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, gia đình được định nghĩa là tập hợp những người gắn bó với nhau bằng hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Điều này cho thấy sự đa dạng trong cấu trúc gia đình hiện đại, từ gia đình hạt nhân đến gia đình đa thế hệ.

1.2. Vai Trò Của Gia Đình Trong Xã Hội Việt Nam

Gia đình không chỉ là nơi nuôi dưỡng và giáo dục con cái mà còn là môi trường hình thành nhân cách và giá trị văn hóa. Gia đình có vai trò quan trọng trong việc duy trì các giá trị truyền thống và phát triển nguồn nhân lực cho xã hội.

II. Những Thách Thức Đối Với Mô Hình Gia Đình Việt Nam Hiện Nay

Mô hình gia đình Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm sự thay đổi trong cấu trúc gia đình, sự gia tăng tỷ lệ ly hôn và xung đột gia đình. Những vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến các thành viên trong gia đình mà còn tác động đến xã hội nói chung.

2.1. Tình Trạng Ly Hôn Tăng Cao

Theo thống kê, tỷ lệ ly hôn ở Việt Nam đang gia tăng đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu đến từ áp lực kinh tế, sự khác biệt trong quan điểm sống và thiếu kỹ năng giải quyết xung đột. Điều này dẫn đến sự tan vỡ của nhiều gia đình, ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em.

2.2. Xung Đột Gia Đình Và Hệ Lụy

Xung đột trong gia đình có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như áp lực công việc, sự khác biệt trong lối sống và giá trị. Những xung đột này không chỉ gây tổn thương cho các thành viên mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định của xã hội.

III. Phương Pháp Xây Dựng Mô Hình Gia Đình Bền Vững

Để xây dựng mô hình gia đình bền vững, cần có những giải pháp pháp lý và xã hội phù hợp. Việc nâng cao nhận thức về vai trò của gia đình và giáo dục kỹ năng sống cho các thành viên là rất quan trọng.

3.1. Tăng Cường Giáo Dục Gia Đình

Giáo dục gia đình cần được chú trọng để trang bị cho các thành viên những kỹ năng cần thiết trong việc giải quyết xung đột và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp. Các chương trình giáo dục có thể được triển khai tại trường học và cộng đồng.

3.2. Chính Sách Hỗ Trợ Gia Đình

Cần có các chính sách hỗ trợ gia đình từ phía nhà nước, bao gồm các chương trình tư vấn tâm lý, hỗ trợ tài chính cho các gia đình gặp khó khăn. Điều này sẽ giúp gia đình vượt qua những thách thức và duy trì sự ổn định.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Mô Hình Gia Đình Theo Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014

Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã tạo ra khung pháp lý cho việc xây dựng và bảo vệ mô hình gia đình. Những quy định này không chỉ bảo vệ quyền lợi của các thành viên mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững của gia đình.

4.1. Quyền Nuôi Con Và Nghĩa Vụ Của Cha Mẹ

Luật quy định rõ quyền nuôi con và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc chăm sóc và giáo dục con cái. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của trẻ em và đảm bảo sự phát triển toàn diện của chúng.

4.2. Bảo Vệ Quyền Lợi Của Phụ Nữ Trong Gia Đình

Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 cũng đã có những quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong gia đình, đảm bảo sự bình đẳng giới và ngăn chặn bạo lực gia đình.

V. Kết Luận Về Mô Hình Gia Đình Việt Nam Trong Tương Lai

Mô hình gia đình Việt Nam đang trong quá trình chuyển mình để thích ứng với những thay đổi của xã hội hiện đại. Cần có những giải pháp đồng bộ để bảo vệ và phát triển mô hình gia đình bền vững, góp phần vào sự phát triển của xã hội.

5.1. Tương Lai Của Mô Hình Gia Đình

Mô hình gia đình trong tương lai sẽ cần phải linh hoạt hơn để thích ứng với những thay đổi trong xã hội. Sự phát triển của công nghệ và kinh tế sẽ ảnh hưởng đến cách thức tổ chức và vận hành gia đình.

5.2. Vai Trò Của Gia Đình Trong Xã Hội Hiện Đại

Gia đình sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc giáo dục và hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ. Cần có sự hỗ trợ từ cộng đồng và nhà nước để gia đình có thể phát huy tốt nhất vai trò của mình.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls mô hình gia đình việt nam theo luật hôn nhân gia đình năm 2014 chuyên ngành luật dân sự và tố tụng dân sự 60 38 01 03

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Những vấn đề lý luận chung về mô hình gia đình Chƣơng II: Những quy định pháp luật và thực trạng mô hìnhgia đình của Việt Nam theo Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Chƣơng III: Các khuyến nghị xây dựng, hoàn thiện mô hình gia đình Việt Nam 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔ HÌNH GIA ĐÌNH 1. Khái niệm và bản chất của gia đình Theo Việt Nam Dân luật lƣợc khảo, so sánh các cách tổ chức gia đình trên thế giới và trong lịch sử, nhân loại có hai quan niệm chính yếu về gia đình đó là: “Quan niệm cổ ở Đông phƣơng cũng nhƣ quan niệm cổ ở La Mã là quan niệm đại gia đình, gồm tất cả các bà con cùng huyết thống”, trái lại theo quan niệm mới, ở Tây phƣơng cũng nhƣ ở Đông phƣơng, gia đình chỉ gồm có hai vợ chồng và các con chƣa trƣởng thành sống cùng với cha mẹ”[15]. Theo Từ điển tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những ngƣời cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thƣờng gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”[12]. Với cách hiểu này, “Gia đình” đƣợc cho là một hạt nhân nhỏ nhất để xây dựng và hình thành nên xã hội.

Bên trong nội hàm của “Gia đình” thƣờng chỉ bao gồm những chủ thể đƣợc gắn kết với nhau bằng quan hệ hôn nhân hay quan hệ trực hệ - có sự liên kết với nhau về huyết thống. Do đó, có thể hiểu rằng “Gia đình” theo Từ điển tiếng Việt là định nghĩa về gia đình theo nghĩa hẹp nhất, không có sự bao hàm các trƣờng hợp thực tế nhƣ đối với những gia đình có quan hệ nuôi con nuôi. Dƣới góc độ xã hội học, gia đình đƣợc coi là tế bào của xã hội[2]. Không giống bất cứ nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn hóa.

Mối quan hệ gia đình đƣợc thể hiện ở các khía cạnh nhƣ: có quan hệ vợ chồng, sinh con và nuôi dạy con cái, lao động tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp cho xã hội. Mối liên hệ này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên những căn cứ thực tế một cách tự nhiên, tự phát. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dƣới góc độ pháp lý, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định : Gia đình là tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dƣỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của luật này”[6]. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia đình: gia đình là tập hợp những ngƣời cùng có tên trong một sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp những ngƣời cùng chung sống với nhau dƣới một mái nhà…Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, gia đình đƣợc chia thành rất nhiều dạng thức khác nhau: gia đình hiện đại và gia đình truyền thống; gia đình hạt nhân và gia đình đa thế hệ; gia đình khuyết thiếu và gia đình đầy đủ…[13,15].

Theo Việt Nam dân luật lƣợc khảo:Về phƣơng diện xã hội, gia đình là nền tảng của quốc gia. Theo kinh nghiệm, những ngƣời công dân biết làm tron bổn phận đối với Tổ quốc bao giờ cũng là những con ngƣời đã hấp thụ một nền giáo dục tốt ở trong gia đình. Trái lại, phần đông những phần tử xấu xa phạm tội lỗi trong xã hội là những ngƣời không có gia đình hoặc bị gia đình ruồng bỏ [15]. Về phƣơng diện chính trị, sự tổ chức gia đình là một vấn đề rất hệ trọng.

Sự suy vọng hƣng thịnh của một quốc gia vốn có liên lạc chặt chẽ với vấn đề sinh sản tức là vấn đề gia đình. Ở nƣớc Pháp chẳng hạn, về đầu thế kỷ thứ 20 do sự sinh sản sút kém, dân số đã đứng nguyên trong khi dân số của Đức đã tăng gia một cách rất đáng lo ngại cho Pháp. Vì vậy, chính phủ Pháp đã phải theo đuổi một chính sách bảo vệ gia đình và từ năm 1939, khuyến khích sự lập gia đình và sự sinh sản bằng cách trợ cấp các gia đình đông con. Số tiền trợ cấp cho mỗi gia đình càng lớn nếu số con càng đông.

Nhờ thế, sự sinh sản sau khi nƣớc pháp đƣợc giải phóng đã tăng lên đôi chút.[2] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về phƣơng diện kinh tế, gia đình vốn là một đoàn thể kinh tế rất chặt chẽ. Hơn nữa, gia đình là một động lực khuyến khích rất mạnh mẽ sự tồn tích ở trong nƣớc. Trong đời sống hàng ngày, có rất nhiều hoạt động kinh tế thích ứng cho khuôn khổ gia đình nhƣ: các sự kinh doanh về nông nghiệp, các tiểu công nghệ, các tiểu kỹ nghệ, tiểu thƣơng mại.”[1,11] Nhƣ vậy bản chất của gia đình là dựa trên ba mối quan hệ là hôn nhân, huyết thống và pháp lý. - Quan hệ hôn nhân là quan hệ giữa ngƣời đàn ông với ngƣời đàn bà, dựa trên nhu cầu tính giao (sự ham muốn khác giới) đƣợc pháp luật công nhận hoặc không đƣợc (không cần) pháp luật công nhận, nhƣng có sự thừa nhận của cộng đồng theo luật tục (chủ yếu ở những cộng đồng chƣa có pháp luật về giá thú) hoặc theo các qui định của tôn giáo, tập quán cộng đồng… Quan hệ hôn nhân là quan hệ cơ bản của gia đình tạo ra những quan hệ khác và làm nền tảng cho sự bền vững của gia đình.

- Quan hệ huyết thống là quan hệ sinh học – xã hội giữa cha mẹ và con cái nảy sinh từ quan hệ hôn nhân. Quan hệ huyết thống đƣợc biểu hiện ở sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái và giữa các anh, chị, em cùng cha, mẹ sinh ra. Do sự tiếp nối giữa các thế hệ trong gia đình, ngoài các quan hệ trên còn có các quan hệ khác: Ông bà và con, cháu, chắt… - Quan hệ pháp lý và tình cảm: Mối qua hệ giữa các thành viên trong gia đình về quyền lợi, nghĩa vụ, về của cải, tài sản và sự “ cấp dƣỡng” những nghĩa vụ tình cảm, những cấm đoán về tính giao giữa những ngƣời có cùng huyết thống gần, hay giữa cha mẹ nuôi và con nuôi…mà pháp luật quy định. Khái niệm và vai trò của mô hình gia đình đối với đời sống và pháp luật Kể từ khi chƣa có sự điều chỉnh của pháp luât, gia đình đã là một định chế đƣợc hình thành một cách tự nhiên thuần túy.

Đi ngƣợc lại dòng lịch sử 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo các tài liệu thì ta có thể thấy gia đình đã đƣợc xây dựng trên hai mô hình chính là Đại gia đình và Tiểu gia đình, mà cụ thể nhƣ sau: Đại gia đình là mô hình gia đình đƣợc tổ chức theo tộc họ và đƣợc đặt dƣới chế độ phụ quyền. Song quy mô tổ chức của gia đình - tộc họ cũng nhƣ cách vận hành của chế độ phụ quyền không giống nhau tuy theo gia đình đƣợc hình dung ở góc độ kinh tế hay ở góc nghi lễ, tín ngƣỡng. Ở góc độ kinh tế, gia đình - tộc họ gồm tất cả những ngƣời thuộc các thế hệ khác nhau sống trong cùng một nhà (gọi là gia tộc). Gia đình có ngƣời đứng đầu gọi là gia trƣởng (chủ gia đình).

Gia đình, chứ không phải các nhân, là chủ thể của quyền sở hữu tài sản và việc thực hiện quyền sở hữu đó là của gia trƣởng. Cũng chính gia trƣởng là ngƣời điều hành các công việc thƣợc sinh hoạt nội bộ của gia đình, kể cả việc dựng vợ, gả chồng cho con, cháu[1]. Ở góc độ nghi lễ, tín ngƣỡng, gia đình - tộc họ (còn gọi là dòng họ hay tông tộc) gồm tất cả những ngƣời có chung một tổ tiên. Ngƣời đứng đầu gia đình gọi là trƣởng tộc.

Các thành viên gia đình có mối quan hệ gắn bó do trƣớc hết họ có sự quan tâm chung đối với việc thờ cúng tổ tiên cũng nhƣ đối với việc gìn giữ và phát huy truyền thống[13]. Những mối quan tâm ấy chỉ gắn với lợi ích tinh thần. Bởi vậy, chế độ phụ quyền xoay quanh nhân vật trung tâm là trƣờng tộc, có nhiều nét giống với chế độ trƣởng giáo của các giáo phái. Mô hình gia đình - Tộc họ theo chế độ phụ quyền đƣợc quyền duy trì trong luật Việt Nam cho đến khi chấm dứt chế độ thuộc địa.

Xét về khía cạnh tiểu gia đình có thể coi là một mô hình khá nổi bật hiện tại, tƣơng ứng với chế độ hộ gia đình theo mô hình gia đình đƣợc ngƣời làm luật XHCN lựa chọn nhƣ một biện pháp đấu tranh chống những tàn dƣ của chế độ hôn nhân và gia đình thực dân phong kiến và thúc đẩy quá trình dân chủ hóa trong đời sống gia đình Việt Nam. Tổ chức gia đình gồm cha mẹ và con là đối tƣợng của những quy tắc tạo thành Luật hôn nhân và gia đình 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Gia đình hộ tiếp thục là đề tài chính của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 và đƣợc chi phố trong Luật này bởi một hệ thống quy tắc khá chi tiết[10,20]. Gia đình không chỉ là “tế bào” tự nhiên mà còn là một đơn vị kinh tế của xã hội.

Vì thế vai trò của mô hình gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao phục vụ đất nƣớc. Gia đình có vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của xã hội. Pháp luật về gia đình phải xây dựng hoặc thừa nhận một mô hình gia đình nhất định trong việc điều tiết gia đình (với tính cách là một hiện tƣợng khách quan đối với loài ngƣời nhƣng chủ quan đối với mỗi cá nhân trong việc tạo lập gia đình). Những chuẩn mực giá trị tốt đẹp của gia đình đƣợc tiếp nhận, phát triển góp phần xây dựng, tô thắm, làm rạng rỡ thêm bản sắc văn hóa dân tộc.

Đại hội XI, Đảng ta khẳng định: Gia đình là môi trƣờng quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách, góp phần chăm lo xây dựng con ngƣời Việt Nam giàu lòng yêu nƣớc, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính[23].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ