Tổng quan nghiên cứu

Tại Việt Nam vào năm 2005, số lượng hộ nghèo trên phạm vi cả nước vẫn chiếm tỷ lệ xấp xỉ 26% (tương đương 4,6 triệu hộ gia đình), trong đó có tới 74,1% dân số sinh sống tập trung tại các vùng nông thôn với hệ số bất bình đẳng thu nhập Gini ở mức 0,42. Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập từ năm 1962, là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam với tổng diện tích 22.200 ha nằm trải dài trên địa bàn 3 tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình và Thanh Hóa, cách thủ đô Hà Nội khoảng 120 km về phía Nam. Dù sở hữu kho tàng tài nguyên thiên nhiên nhiệt đới vô giá và lưu lượng khách du lịch gia tăng liên tục, cộng đồng cư dân bản địa tại các xã vùng đệm (chủ yếu là đồng bào dân tộc Mường) vẫn đối mặt với áp lực sinh kế gay gắt. Tình trạng thiếu đất canh tác kết hợp với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao khiến một bộ phận lớn người dân phải duy trì thói quen khai thác lâm sản trái phép trong vùng lõi di sản.

Mục tiêu cốt lõi của luận văn do học viên Lê Thu Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Đức Thanh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) là xây dựng mô hình du lịch vì người nghèo (Pro-poor Tourism - PPT) phù hợp với thực tiễn các xã vùng đệm Vườn Quốc gia Cúc Phương. Nghiên cứu xác định phạm vi không gian trọng điểm tại các xã Cúc Phương, Kỳ Phú, Yên Quang và bản Khanh, bám sát diễn biến kinh tế - xã hội từ năm 2006 đến năm 2007. Về mặt giá trị ứng dụng, công trình thiết lập cơ chế chuyển đổi nghề nghiệp bền vững, hướng tới việc gia tăng nguồn thu nhập trực tiếp cho hàng trăm hộ đồng bào thiểu số và giảm thiểu 100% các tác động xâm hại đến tài nguyên rừng nguyên sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết Du lịch vì người nghèo (Pro-poor Tourism - PPT) do Trung tâm Phát triển Quốc tế Anh quốc (DFID) khởi xướng năm 1999, định vị du lịch là công cụ tái phân phối thu nhập và đưa vấn đề xóa đói giảm nghèo vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển bền vững. Đi kèm với đó là khung lý thuyết Du lịch bền vững vì người nghèo (SPPT) do Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) hoàn thiện, bao gồm hai nhánh tiếp cận chính: tiếp cận sản phẩm vì người nghèo (phát triển các dịch vụ trải nghiệm tại vùng nghèo) và tiếp cận lồng ghép (kết nối chuỗi cung ứng của người dân vào các cơ sở lưu trú, nhà hàng hiện hữu).

Nghiên cứu cũng tích hợp các chuẩn nghèo đa chiều: từ chuẩn nghèo tuyệt đối của Ngân hàng Thế giới (dưới 1 USD/ngày) và chuẩn năng lượng tối thiểu 2.100 Kcal/người/ngày theo quy chuẩn ESCAP năm 1993, cho đến các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ Việt Nam như Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg và Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg quy định chuẩn nghèo nông thôn giai đoạn 2006 - 2010 là 200.000 đồng/người/tháng. Ngoài ra, tác giả đưa vào mô hình quản trị dịch vụ 5A (Accommodation - Lưu trú, Access - Tiếp cận, Available Service - Dịch vụ sẵn có, Amenities - Tiện nghi, Activities - Hoạt động) nhằm chuẩn hóa các tiêu chí vận hành du lịch nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã triển khai 4 đợt khảo sát thực địa chuyên sâu trong giai đoạn 2006 - 2007 tại Vườn Quốc gia Cúc Phương và các xã vùng đệm phụ cận. Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện để thực hiện điều tra xã hội học trên cỡ mẫu khảo sát bao gồm cán bộ Ban Quản lý vườn, đại diện chính quyền địa phương xã Cúc Phương, Kỳ Phú, Yên Quang, cùng các hộ gia đình dân tộc bản địa tại bản Khanh và du khách trải nghiệm tour.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả xuất phát từ tính chất đặc thù của sinh kế vùng đệm: cần đo lường chính xác các chỉ số định lượng về năng lực cung ứng lưu trú, cơ cấu nhân sự, đồng thời đánh giá sâu sắc các yếu tố tâm lý, tập quán văn hóa và mức độ sẵn sàng tham gia chuỗi dịch vụ du lịch của cộng đồng Mường. Nguồn dữ liệu thứ cấp được đối chiếu từ báo cáo thống kê của Tổng cục Du lịch, tài liệu của các tổ chức quốc tế như UNWTO, SNV và kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng từ Thái Lan (mô hình bản Karen tại Baan Huay Hee), Paraguay (Hiệp hội APATUR) và Uruguay (Hiệp hội SUTUR).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu thứ cấp đã làm sáng tỏ tiềm năng to lớn cùng những điểm nghẽn nghiêm trọng trong chuỗi giá trị du lịch tại Vườn Quốc gia Cúc Phương:

  • Về tài nguyên sinh thái và văn hóa lịch sử: Vườn Quốc gia Cúc Phương chiếm diện tích bằng 1/1500 diện tích cả nước nhưng là nơi cư trú của 1.983 loài thực vật (chiếm 17,27% tổng số loài thực vật Việt Nam), 89 loài thú, 307 loài chim, 110 loài bò sát lưỡng cư và gần 2.000 loài côn trùng. Nơi đây sở hữu các loài động thực vật quý hiếm biểu tượng như Voọc mông trắng, cây Chò chỉ cao 70m đường kính 1,5m, cây Sấu cổ thụ có bạnh vè cao 10m trải dài 20m, cùng dấu tích hóa thạch bò sát răng phiến Placodontia niên đại 200 - 230 triệu năm và bản sắc văn hóa cồng chiêng, nhà sàn của dân tộc Mường.
  • Về hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch: Ban Quản lý Vườn Quốc gia vận hành 3 cụm lưu trú chính (Cổng vườn, Hồ Mạc, Trung tâm Bống) với tổng quy mô 67 phòng, cung cấp sức chứa 332 chỗ nghỉ (bao gồm 51 phòng đôi, 6 phòng đơn, 6 phòng 4 giường và 4 nhà sàn tập thể chứa 30 - 40 người). Toàn bộ hệ thống 05 nhà hàng ăn uống và 05 quầy lưu niệm đều do đơn vị quản lý trực tiếp vận hành khép kín, tỷ lệ hộ nghèo vùng đệm tham gia sở hữu hoặc kinh doanh dịch vụ lưu trú tư nhân đạt mức 0%.
  • Về thực trạng nguồn nhân lực: Đội ngũ nhân sự trực tiếp trong Ban Du lịch của Vườn gồm 35 người (8 biên chế, 21 hợp đồng dài hạn, 6 hợp đồng vụ việc và 5 lao động thuê khoán). Cơ cấu trình độ chuyên môn du lịch còn rất mỏng: chỉ có 2 người tốt nghiệp chuyên ngành du lịch (1 đại học, 1 trung cấp), chiếm vỏn vẹn khoảng 5,7% tổng nhân lực; trong khi có tới 5 cán bộ đại học lâm nghiệp và 10 cán bộ trung cấp ngành lâm nghiệp kiêm nhiệm làm du lịch.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh sự đứt gãy trong mối liên kết giữa hoạt động bảo tồn - phát triển du lịch với sinh kế của cộng đồng địa phương. Người dân vùng đệm Cúc Phương đang đứng hoàn toàn bên ngoài dòng chảy kinh tế du lịch do rào cản về vốn đầu tư, sự thiếu hụt kỹ năng phục vụ chuyên nghiệp và cơ chế điều phối thị trường chưa hoàn thiện. Lợi ích từ du lịch hầu như chưa phân bổ về các thôn bản nghèo, dẫn đến tình trạng người dân vẫn phải dựa vào việc khai thác gỗ, săn bắn thú rừng để trang trải cuộc sống thường nhật.

Dữ liệu nghiên cứu về cơ cấu nhân lực và năng lực lưu trú có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ trọng nhân sự qua đào tạo nghiệp vụ du lịch (chỉ 5,7% so với 94,3% trái ngành) và bảng ma trận dịch vụ lưu trú tập trung tại 3 phân khu. Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, mô hình Hiệp hội APATUR tại Paraguay (với 512 giường lưu trú nông thôn đạt tỷ lệ khách nội địa 70%, lưu trú trung bình 2 - 4 đêm) và Hiệp hội SUTUR tại Uruguay (hơn 100 trang trại hội viên với 300 phòng và 1.500 giường) cho thấy việc trao quyền kinh doanh nhà dân (homestay) có tổ chức sẽ mở rộng sinh kế bền vững cho người nghèo, biến họ thành đối tác bảo vệ tài nguyên rừng thay vì đối tượng can thiệp tiêu cực.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hiện thực hóa mô hình du lịch vì người nghèo tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược có tính hành động cao:

  1. Thành lập và vận hành Tổ hợp Hợp tác xã Du lịch Cộng đồng vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Nho Quan và Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cúc Phương chủ trì thành lập mô hình liên kết tại xã Cúc Phương và bản Khanh. Chỉ tiêu cụ thể: thu hút 30 đến 50 hộ nghèo tham gia cung ứng dịch vụ lưu trú tại nhà dân (homestay), dịch vụ dẫn đường trải nghiệm văn hóa Mường trong vòng 12 tháng đầu tiên.
  2. Thiết lập quỹ tín dụng vi mô ưu đãi hỗ trợ hạ tầng homestay: Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp với chính quyền địa phương giải ngân các gói vốn vay ưu đãi không thế chấp; mục tiêu hoàn thành nâng cấp 15 đến 20 nhà sàn truyền thống đạt chuẩn vệ sinh, an toàn phòng cháy theo quy chuẩn đón khách du lịch trong vòng 2 năm.
  3. Tổ chức chương trình đào tạo nghề và chuyển giao kỹ năng du lịch: Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình phối hợp với các trường đại học chuyên ngành mở các khóa tập huấn ngắn hạn (thời lượng 1 đến 3 tháng) về kỹ năng giao tiếp, ẩm thực truyền thống, vệ sinh an toàn thực phẩm và ngoại ngữ căn bản; phấn đấu nâng tỷ lệ lao động nông thôn vùng đệm được cấp chứng chỉ nghiệp vụ đạt trên 70%.
  4. Xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm nông - lâm sản bản địa: Các doanh nghiệp lữ hành ký hợp đồng cam kết tiêu thụ tối thiểu 80% thực phẩm tại chỗ (rau sắng, mật ong rừng, thịt lợn mán, gà đồi) và đồ thủ công mỹ nghệ do các hộ nghèo sản xuất để cung cấp cho 5 nhà hàng trung tâm và phục vụ du khách mua sắm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên: Vận dụng làm cẩm nang xây dựng quy chế chia sẻ lợi ích sinh thái, giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế dân sinh vùng đệm.
  2. Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và tổ chức phát triển quốc tế: Sử dụng làm khung tài liệu tham khảo để thiết kế, thẩm định và tài trợ các dự án sinh kế giảm nghèo bền vững dựa vào cộng đồng (CBET) tại khu vực miền núi phía Bắc.
  3. Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư du lịch sinh thái: Khai thác các tuyến điểm tiềm năng (5 tuyến tham quan chính) để thiết kế các sản phẩm tour văn hóa Mường, trekking mạo hiểm kết hợp trải nghiệm homestay có trách nhiệm xã hội.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch học, Lâm nghiệp, Phát triển nông thôn: Sử dụng làm nguồn dữ liệu học thuật chuẩn mực về lý luận Pro-poor Tourism và phương pháp nghiên cứu điền dã thực chứng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  • Du lịch vì người nghèo (PPT) khác biệt như thế nào so với du lịch sinh thái thông thường?
    Khác với du lịch sinh thái chú trọng bảo tồn môi trường tự nhiên, du lịch vì người nghèo (theo khung DFID 1999) đặt lợi ích kinh tế, xã hội của người nghèo làm trung tâm, tối ưu hóa việc làm và thu nhập trực tiếp cho cư dân bản địa.

  • Vườn Quốc gia Cúc Phương có những lợi thế sinh thái và văn hóa đặc thù nào?
    Cúc Phương có diện tích 22.200 ha với 1.983 loài thực vật (chiếm 17,27% toàn quốc), loài Voọc mông trắng đặc hữu, hệ thống hang động cổ sinh và bản sắc văn hóa nhà sàn, cồng chiêng độc đáo của dân tộc Mường.

  • Rào cản lớn nhất của cư dân vùng đệm Cúc Phương khi tham gia vào du lịch là gì?
    Rào cản chính nằm ở việc thiếu vốn đầu tư cải tạo cơ sở lưu trú và thiếu hụt kỹ năng chuyên môn, khi đội ngũ phục vụ du lịch chính thống tại địa phương chỉ có khoảng 5,7% nhân sự được đào tạo bài bản về du lịch.

  • Bài học kinh nghiệm quốc tế nào có thể chuyển giao hiệu quả cho Cúc Phương?
    Kinh nghiệm thành lập các hiệp hội du lịch nông thôn như APATUR (Paraguay) và SUTUR (Uruguay) giúp chuẩn hóa mạng lưới nhà nghỉ nông thôn, kiểm soát chất lượng phục vụ và phối hợp chặt chẽ với các hãng lữ hành đưa khách lưu trú từ 2 đến 4 đêm.

  • Văn bản pháp luật nào của Nhà nước tạo nền tảng chính sách cho mô hình này?
    Nghiên cứu căn cứ vào Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg và Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn nghèo cùng các chính sách ưu đãi đất đai, tín dụng cho các dự án phát triển du lịch tại vùng sâu, vùng xa.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc tính cấp thiết của việc xây dựng mô hình du lịch vì người nghèo tại Vườn Quốc gia Cúc Phương trong bối cảnh tỷ lệ hộ nghèo nông thôn còn cao.
  • Công trình chỉ rõ nghịch lý giữa tiềm năng sinh thái đồ sộ (1.983 loài thực vật trên 22.200 ha) với thực trạng 0% hộ nghèo vùng đệm được tham gia vào chuỗi cung ứng lưu trú chính thống.
  • Đóng góp học thuật quan trọng của đề tài là hệ thống hóa khung lý thuyết Pro-poor Tourism (DFID) kết hợp bài học kinh nghiệm quốc tế từ Thái Lan, Uruguay và Paraguay vào bối cảnh vùng đệm Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào thành lập hợp tác xã du lịch cộng đồng, hỗ trợ vốn tín dụng vi mô, đào tạo nghề ngắn hạn và liên kết chuỗi tiêu thụ sản phẩm bản địa.
  • Lộ trình tiếp theo đòi hỏi sự phối hợp hành động tức thì giữa Ban Quản lý Vườn Quốc gia Cúc Phương, chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lữ hành nhằm hiện thực hóa mô hình sinh kế du lịch nhân văn, bền vững.