Chương 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON 1. KHÁI NIỆM CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON 1. Khái niệm Theo G.SPECK trong cuốn: "Công ty mẹ tại Australia và Niu DiLân (xuất bản lần thứ năm) thì: "Một định nghĩa của thuật ngữ được chấp nhận chung là không có". Xem xét theo nghĩa rộng nhất, nó có thể bao hàm bất kỳ công ty nào nắm giữ cổ phần tại công ty khác.
Nhưng thông thường, thuật ngữ chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp những công ty mà tỷ lệ nắm giữ cổ phần đủ để có thể tiến hành hoạt động kiểm soát đối với công ty khác, do đó các công ty nắm giữ cổ phần như các khoản đầu tư không được bao hàm trong định nghĩa này. Cũng có những khía cạnh khác của thuật ngữ liên quan đến những khía cạnh này không có sự nhất trí chung nào. Một số người viết chỉ áp dụng đối với những công ty thực sự tiến hành hoạt động kiểm soát, trong khi những người khác cho rằng "khả năng kiểm soát, chứ không phải chính bản thân hành động kiểm soát là yếu tố quyết định". Từ "kiểm soát" cũng có rất nhiều cách giải thích khác nhau.
Liệu khái niệm này chỉ nên áp dụng với trường hợp tỷ lệ cổ phần nắm giữ đủ để công ty bầu tất cả hay đa số thành viên hội đồng quản trị, hay nên bao hàm cả trường hợp một công ty có ảnh hưởng quan trọng đến chính sách của một công ty khác thông qua tỷ lệ cổ phần nắm giữ "thiểu số có tính chất ảnh hưởng" [25, tr. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (International Accounting Standard), công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý có ít nhất một đơn vị trực thuộc - công ty con (Subsidiary). Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ. Kiểm soát ở đây được hiểu là: (1) sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu; hoặc (2) sở hữu 50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50% số phiếu bầu theo sự thỏa thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh đạo, điều hành liên quan đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh doanh của công ty và được qui định tại điều lệ, theo sự thỏa thuận hay hợp đồng; hoặc có quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo; hay có quyền quyết định, định hướng đến phần lớn số phiếu bầu tại các cuộc họp Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo.
Theo Luật công ty của Anh năm 1985, công ty mẹ được hiểu là công ty nắm cổ phần khống chế (trên 50%) ở công ty khác (công ty con). Tuy nhiên, theo tu chính năm 1989 để phù hợp với "Hướng dẫn chính thức lần thứ 7 về Luật công ty" (Seventh Company Law Directive) của Cộng đồng châu Âu (EC) thì (A) là công ty mẹ của công ty con (B) khi: (1) A là cổ đông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B; (2) A là cổ đông và có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn thành viên Hội đồng quản trị của B; (3) A có quyền quyết định về chính sách tài chính và sản xuất kinh doanh của B bằng sự thỏa thuận chính thức, hợp đồng; (4) A là cổ đông của B và có quyền kiểm soát phần lớn phiếu bầu một cách độc lập hay liên kết với các cổ đông khác; hoặc (5) A có quyền lợi tham gia điều hành (participating interest - được hiểu là nắm giữ từ 20% cổ phần) và trên thực tế thực hiện quyền chi phối đối với B hoặc A và B có cùng một cơ chế quản lý thống nhất. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Luật công ty của Cộng hòa Liên bang Nga năm 1995, một công ty được gọi là công ty con (tiếng Nga gọi là Dotchernie) nếu do một công ty khác - công ty mẹ (Osnovnoe) nắm giữ cổ phần khống chế trong vốn điều lệ hoặc bị công ty khác chi phối các quyết định của mình hoặc bằng một thỏa thuận chính thức hay dưới hình thức nào đó. Luật không qui định một cách cụ thể thế nào là cổ phần khống chế và không nêu cụ thể hình thức hợp đồng, thỏa thuận như thế nào liên quan đến việc chi phối các quyết định của công ty con [17, tr.
Khái niệm về công ty mẹ - công ty con còn có định nghĩa khác. Theo từ điển pháp luật của Black (Back’s Law Dictionary) thì công ty mẹ là: Công ty thường giới hạn các hoạt động của mình trong việc sở hữu cổ phần trong các công ty khác và thực hiện việc giám sát quản lý đối với các công ty này. Công ty mẹ cần phải nắm giữ quyền kiểm soát trong các công ty mà nó có cổ phần. Để được hưởng những quyền về thuế, công ty mẹ phải nắm giữ 80% hoặc hơn số cổ phần biểu quyết của một công ty [25, tr.
Cũng theo từ điển này thì công ty con là: "Công ty bị công ty khác nắm giữ đa số cổ phần và kiểm soát; hoặc là công ty mà hơn 50% cổ phần biểu quyết bị công ty khác (công ty mẹ) nắm giữ" [25, tr. Theo quy định của pháp luật Việt Nam (khoản 15 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005) thì công ty mẹ - công ty được định nghĩa như sau: Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông đã phát hành của công ty đó; b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất cả các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó; 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của công ty đó [14]. Những đặc trƣng pháp lý mô hình công ty mẹ - công ty con Tuy cách diễn giải có khác nhau, có thể rút ra những đặc trưng của quan hệ công ty mẹ - công ty con như sau: Thứ nhất, công ty mẹ - công ty con là một tập hợp các công ty, trong đó, mỗi công ty là một pháp nhân độc lập, có tài sản riêng, có bộ máy điều hành quản lý riêng và tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ cũng như các nghĩa vụ tài sản của mình. Trong các công ty này, mỗi công ty đều có quyền và nghĩa vụ riêng biệt, hoạt động trước tiên là vì lợi ích của công ty mình nhằm thu lợi nhuận tối đa.
Thứ hai, quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được thiết lập trên cơ sở sở hữu vốn. Theo đó, công ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc đầu tư phần vốn góp chi phối vào công ty con. Tùy theo pháp luật của mỗi nước và điều lệ của từng công ty quy định mà mức chi phối được thể hiện ở tỷ lệ vốn góp. Thông thường, công ty mẹ chiếm từ 50% trở lên vốn góp của công ty con.
Tuy nhiên, có trường hợp vẫn được coi là công ty mẹ mặc dù vốn góp dưới 50% tùy thuộc vào điều lệ công ty. Thứ ba, công ty mẹ là công ty nắm giữ quyền chi phối, kiểm soát công ty con. Việc kiểm soát, chi phối của công ty mẹ đối với công ty con thể hiện ở việc tác động tới các quyết định quan trọng của công ty con thông qua người đại diện phần vốn góp hay người trực tiếp quản lý phần vốn của công ty mẹ tại công ty con (các thành viên Hội đồng quản trị). Các luật của Anh quốc và Niu Dilân quy định rằng "một công ty sẽ được coi là công ty mẹ của một công ty khác nếu, và chỉ nếu khi công ty khác đó là công ty con của công ty mẹ nói trên".
Phụ thuộc vào một số những điều kiện nhất định, những đạo luật này quy định rằng một công ty là công ty con của một công ty khác nếu: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (a) Công ty khác đó: (i) Là thành viên của công ty này và kiểm soát thành phần hội đồng quản trị; hoặc (ii) Nắm giữ hơn một nửa giá trị danh nghĩa của vốn cổ phần; hoặc (b) Công ty đề cập đầu tiên là một công ty con của bất kỳ một công ty nào là công ty con của công ty khác đó. Định nghĩa của công ty con trong các đạo luật công ty thống nhất các bang nước Ôxtrâylia quy định rằng công ty A là một công ty con của công ty B nếu: (a) Công ty B- (i) Kiểm soát cơ cấu thành phần của hội đồng quản trị công ty A; (ii) Kiểm soát hơn một nửa quyền biểu quyết của công ty A; hoặc (iii) Nắm giữ hơn một nửa tỷ lệ vốn cổ phần đã phát hành của công ty A (không bao gồm những phần không tạo quyền tham gia vượt quá mức phân phối lợi nhuận hoặc vốn); hoặc (b) Công ty A là công ty con của bất kỳ công ty nào là công ty con của công ty B [25, tr. Thứ tư, mỗi công ty mẹ có thể có nhiều công ty con nhưng mỗi công ty con chỉ có một công ty mẹ. Và các công ty con có thể tiếp tục đầu tư vào các công ty con khác.
Một câu hỏi đặt ra là có trường hợp nào công ty con đầu tư ngược trở lại công ty mẹ và trở thành công ty mẹ hay không? Theo luật pháp của một số nước như Cộng hòa Liên bang Nga thì công ty con không được phép nắm giữ cổ phần của công ty mẹ [28, tr. Ở Việt Nam, pháp luật chưa thấy quy định về vấn đề này và trên thực tế cũng chưa thấy xuất hiện trường hợp công ty con nào đầu tư ngược trở lại công ty mẹ để trở thành công ty mẹ. Thứ năm, công ty mẹ không bị ràng buộc hay phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ tài sản của công ty con. Các công ty tự chịu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trách nhiệm về các khoản nợ cũng như các nghĩa vụ tài chính khác bằng tài sản của mình, không sử dụng tài sản của công ty này để trả nợ cho công ty kia.
Với năm đặc trưng trên đây thì đặc trưng cơ bản nhất của mô hình công ty mẹ - công ty con là đặc trưng về sở hữu vốn của công ty mẹ với công ty con và sự kiểm soát chi phối của công ty mẹ đối với công ty con.