CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát về quản trị công ty cổ phần 1. Khái niệm và đặc điểm công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Ở các quốc gia trên thế giới, công ty cổ phần có thể được gọi dưới nhiều tên khác nhau.
Ở Pháp, người ta gọi công ty cổ phần là công ty vô danh (anonymous company), người Anh gọi công ty cổ phần là công ty trách nhiệm hữu hạn (company LTD), còn người Mỹ gọi là công ty kinh doanh (commercial coporation), trong khi ở Nhật thì gọi là công ty chung cổ phần (kabushiki kaisha)1. Dù khác nhau về tên gọi nhưng nhìn chung, các quốc gia đều có quan niệm thống nhất về công ty cổ phần là loại hình công ty đặc trưng của công ty đối vốn với sự tách bạch tài sản của công ty và tài sản của các cổ đông, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình vào công ty, vốn cơ bản của công ty được chia nhỏ ra thành các cổ phần và công ty cổ phần được phát hành các loại chứng khoán ra thị trường để huy động vốn trong quá trình hoạt động. Về mặt lịch sử, công ty cổ phần ra đời sau công ty đối nhân nhưng là hình thức đầu tiên của loại hình công ty đối vốn. Khác với sự ra đời của công ty trách nhiệm hữu hạn - là sản phẩm của các nhà lập pháp, công ty cổ phần được hình thành từ hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư và dần dần được luật hóa thành một chế định pháp lý riêng2.
Có thể nói, sự ra đời của công ty cổ phần phản ánh quy luật phát triển của kinh tế thị trường và sự hoạt động, tồn tài của công ty cổ phần gắn liền mật thiết với sự phát triển của thị trường tài chính tại các quốc gia. Chính vì vậy, công ty cổ phần được nhiều nhà đầu tư lựa chọn để kinh doanh vì chúng là mô hình sản xuất kinh doanh hiện đại với nhiều ưu điểm vượt trội trong cấu trúc quản trị và khả năng huy động vốn so với các loại hình doanh nghiệp khác. 1 Trần Huỳnh Thanh Nghị (2020), Giáo trình Luật Doanh nghiệp, Nxb Lao Động, Tp HCM, trang 101. 2 Từ Thảo (2010), Lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần trên thế giới và ở Việt Nam, https://thongtinphapluatdansu.
8 Tại Việt Nam, trước năm 1975, mô hình công ty cổ phần đã từng xuất hiện và được luật hóa trong Bộ luật Thương mại Sài Gòn năm 1972. Khi đất nước thống nhất, trong giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1989, nhà nước ta phát triển kinh tế theo cơ chế tập trung bao cấp, không thừa nhận quyền tự do kinh doanh. Vì vậy, việc luật hóa các loại hình doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng trong thời gian này cũng chưa được pháp luật quy định. Đến ngày 21/12/1990, Quốc hội đã ban hành Luật Công ty năm 1990 quy định về việc thành lập, hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần tại Việt Nam.
Tuy nhiên, Luật Công ty năm 1990 chỉ có 46 điều luật khá sơ sài và quá trình thi hành đã phát sinh nhiều vướng mắc, bất cập nên dù được luật hóa nhưng loại hình công ty cổ phần vẫn chưa phát triển mạnh tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1990 đến năm 1999. Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc từ thực tiễn, Quốc hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2020 với nhiều đổi mới trong quy định về công ty cổ phần đã tạo hành lang pháp lý ngày càng theo hướng hoàn thiện hơn cho sự phát triển của công ty cổ phần3. Hiện tại, Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng không có định nghĩa cụ thể khái niệm của công ty cổ phần là gì, mà chỉ xác định công ty cổ phần là doanh nghiệp mà trong đó: "Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa.
Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 120 và Khoản 1 Điều 127 của Luật Doanh nghiệp năm 2020". 3 Trần Huỳnh Thanh Nghị (2020), Giáo trình Luật Doanh nghiệp, Nxb Lao Động, Tp HCM, trang 102. 9 Đồng thời, "công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty"4. Đặc điểm của công ty cổ phần Có thể nhận thấy công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn (capital corporation). Đây là một đặc trưng cơ bản của công ty cổ phần. Bất kỳ nhà đầu tư là cá nhân hay tổ chức cũng đều có thể sở hữu cổ phần tại công ty cổ phần.
Những nhà đầu tư này thường ít có sự quan tâm đến vấn đề nhân thân của nhau mà họ chủ yếu quan tâm đến hiệu quả kinh doanh của công ty và sự biến động của giá cổ phần trên thị trường. Đặc điểm đối vốn mang lại cho công ty cổ phần lợi thế đáng kể trong việc thu hút nhà đầu tư tham gia góp vốn vào công ty. Do đó, có những công ty cổ phần, nhất là những công ty cổ phần có niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, có thể thu hút một số lượng lớn nhà đầu tư tham gia lên đến hàng nghìn, hàng vạn người. Nhờ đó, các công ty cổ phần thường chiếm ưu thế trong cạnh tranh nhờ vào nguồn vốn lớn và kinh doanh ở phạm vi rộng.
Thứ hai, vốn điều lệ của công ty được chia nhỏ thành các phần bằng nhau gọi là các cổ phần. Nhà đầu tư là tổ chức hay cá nhân sở hữu ít nhất một cổ phần được gọi là cổ đông của công ty cổ phần5. Cổ phần được thể hiện ra bên ngoài dưới dạng thức cổ phiếu - là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó, cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên cổ đông sở hữu. Đây là một đặc trưng riêng chỉ có ở công ty cổ phần.
Tại công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thì giá trị phần vốn góp của nhà đầu tư được thể hiện trong Giấy chứng nhận phần vốn góp mà công ty cấp cho các thành viên khi họ góp đủ vốn góp theo cam kết và giá trị phần vốn góp này thường không bằng nhau. Ngược lại, đối với công ty cổ phần, mệnh giá mỗi cổ phần thuộc sở hữu của nhà đầu 4 Khoản 2 và Khoản 3 Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020. 5 Khoản 3 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020. 10 tư đều bằng nhau.
Cụ thể theo quy định tại Luật Chứng khoán năm 2020, mệnh giá cổ phiếu chào bán lần đầu ra công chúng là 10 nghìn đồng. Giả sử, một công ty cổ phần có vốn điều lệ là 100 tỷ đồng, nếu chia vốn điều lệ đó thành 10 triệu cổ phần thì mệnh giá mỗi cổ phần đều bằng nhau là 10 nghìn đồng. Còn giá trị cổ phần biến thiên dựa trên mệnh giá có thể cao hơn hoặc thấp hơn mệnh giá, phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty và thực trạng thị trường giao dịch cổ phiếu chi phối. Thứ ba, việc chuyển nhượng cổ phần của cổ đông ít bị hạn chế.
Trong công ty cổ phần, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần chứ không bị hạn chế bởi điều kiện chuyển nhượng phải ưu tiên chào bán nội bộ trước như tại công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc phải được sự chấp thuận của tất cả các thành viên hợp danh còn lại như tại công ty hợp danh. Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2020, ngoại trừ cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng6, các loại cổ phần khác thì cổ đông được phép chuyển nhượng cho nhà đầu tư khác trong và ngoài công ty, trừ hai trường hợp sau: (1) Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần, nhưng các hạn chế này phải được ghi rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng và (2) Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập đăng ký mua và thanh toán tiền mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày thành lập công ty cổ phần thì những cổ phần này bị hạn chế chuyển nhượng trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày thành lập công ty. Theo đó, trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của ĐHĐCĐ. Trường hợp này, cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần phổ thông thì không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó7.
Có thể nói, sự thông thoáng trong chuyển nhượng cổ phần là đặc điểm quan trọng của công ty cổ phần, giúp cho nhà đầu tư khi cần thiết có thể thu hồi vốn đầu tư tại công ty cổ phần một cách dễ dàng. 6 Khoản 3 Điều 116 Luật Doanh nghiệp năm 2020. 7 Khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp năm 2020. 11 Thứ tư, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân và cổ đông chỉ chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
Công ty cổ phần hội đủ 04 điều kiện để trở thành một pháp nhân theo Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc này mang lại cho các cổ đông sự an toàn tài chính cần thiết trước các rủi ro tài chính phát sinh từ hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần. Cổ đông không cần phải dùng tài sản riêng của họ để chịu trách nhiệm thay cho công ty trong trường hợp công ty cổ phần bị phá sản mà chỉ chịu trách nhiệm tài sản trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.