phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về bảo hiểm tiền gửi và mô hình cơ quan bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về mô hình cơ quan bảo hiểm tiền gửi Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về mô hình cơ quan bảo hiểm tiền gửi Việt Nam 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ MÔ HÌNH CƠ QUAN BẢO HIỂM TIỀN GỬI 1. Bảo hiểm tiền gửi 1. Khái niệm * Khái niệm tiền gửi: Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển về hoạt động của các tổ chức tín dụng có thể thấy rằng, một trong những hoạt động cơ bản của các tổ chức tín dụng là hoạt động huy động vốn từ công chúng bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣ nhận tiền gửi dƣới dạng tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm; phát hành kỳ phiếu; phát hành chứng chỉ tiền gửi… Nguồn vốn huy động này sẽ đƣợc các tổ chức tín dụng cho các chủ thể khác trong nền kinh tế vay nhằm mục đích sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt và đời sống. Nhƣ vậy, các tổ chức tín dụng đã trở thành trung gian tài chính giữa ngƣời gửi tiền - ngƣời cho vay và ngƣời đi vay.
Tuy nhiên, dƣới góc độ pháp lý thì ngƣời cho vay và ngƣời đi vay không có mối liên hệ pháp lý nào, họ chỉ biết đến hợp đồng đƣợc ký kết giữa mình với tổ chức tín dụng và tổ chức tín dụng là chủ thể trung chuyển nguồn vốn giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời thiếu vốn. Điều này có nghĩa là tổ chức tín dụng có toàn quyền sử dụng đồng vốn mà họ huy động đƣợc, chủ động quyết định việc cho chủ thể nào vay và phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền gửi cho ngƣời gửi tiền khi đáo hạn hoặc khi ngƣời gửi tiền có nhu cầu. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng thuật ngữ "tiền gửi" đã đƣợc sử dụng từ rất lâu và gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của hoạt động ngân hàng. Ở giai đoạn bắt đầu xuất hiện hoạt động ngân hàng thì thuật ngữ tiền gửi chỉ đƣợc hiểu một cách đơn giản là các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng nhƣng 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com họ không muốn hoặc không biết đầu tƣ vào đâu nên đem gửi vào ngân hàng với mục đích tiết kiệm và bảo đảm an toàn cho tài sản của mình.
Sau này, cùng với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, hoạt động ngân hàng cũng ngày càng phát triển và kéo theo đó là sự hình thành hàng loạt hoạt động nghiệp vụ ngân hàng khác nhƣ cho vay, thanh toán… thì các khoản tiền gửi của dân chúng tại ngân hàng không đơn thuần chỉ nhằm mục đích bảo quản tài sản nữa mà đã đƣợc hƣởng lãi. Ngày nay, khi nhu cầu về vốn trong nền kinh tế là rất lớn thì yêu cầu huy động vốn nhàn rỗi từ dân chúng của các ngân hàng cũng ngày càng tăng và để khuyến khích việc gửi tiền vào ngân hàng thì các ngân hàng ngày càng phải nâng cao chất lƣợng dịch vụ, đƣa ra các mức lãi suất huy động phù hợp… Do đó, thuật ngữ tiền gửi cũng đƣợc hiểu rộng hơn và đƣợc quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về tài chính ngân hàng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia cũng lại có quan niệm và sự phân loại tiền gửi khác nhau. Chẳng hạn, tại Điều 2 Đạo luật 372 - Luật về các tổ chức tài chính và ngân hàng năm 1989 của Malaysia quy định: Tiền gửi có nghĩa là một khoản tiền đã nhận hay được hoàn trả theo các điều kiện: a) mà theo đó khoản tiền sẽ được hoàn trả, có hoặc không có lãi hoặc có cộng thêm phí hoặc chiết khấu đi; hoặc b) mà theo đó khoản tiền phải hoàn trả, toàn bộ hoặc một phần, với bất kỳ tính toán nào về tiền tệ hoặc trị giá tiền tệ, và khoản được hoàn trả như vậy không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn hoặc trong những hoàn cảnh được thỏa thuận bởi hoặc thay mặt cho người thực hiện thanh toán và người nhận thanh toán, bất kỳ là giao dịch được coi như là một khoản cho vay, một khoản ứng trước, một khoản đầu tư, khoản tiết kiệm, mua hoặc mua và bán, nhưng không tính yếu tố xác thực của khoản tiền được trả.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, theo định nghĩa này thì tiền gửi là khái niệm đƣợc hiểu rất rộng, nó không đơn thuần chỉ là các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng gửi tại ngân hàng để tiết kiệm hay nhằm hƣởng lãi mà còn là các khoản tiền gửi nhằm mục đích khác nhau nhƣ để đầu tƣ, đặt cọc hay ứng trƣớc… Hay tại Phần 3 Luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ cũng đƣa ra khái niệm: Tiền gửi có nghĩa là số dư tiền hoặc giá trị tương đương chưa được thanh toán đã được nhận hoặc giữ bởi một ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh thông thường và từ đó nó cấp hoặc có nghĩa vụ cấp tín dụng, dù là có điều kiện hay không điều kiện, cho một tài khoản thương mại, séc, tiết kiệm, không kỳ hạn hoặc được chứng minh bằng giấy chứng nhận tiền gửi, chứng nhận tiết kiệm, chứng nhận đầu tư, chứng nhận nợ, hoặc những tên tương tự, hoặc séc hay hối phiếu rút từ tài khoản tiền gửi và được chứng nhận bởi ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm, hoặc thư tín dụng hoặc séc du lịch mà ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm có nghĩa vụ đầu tiên. Tại Việt Nam, khái niệm tiền gửi cũng đã đƣợc quy định trong các văn bản pháp luật. Theo quy định tại khoản 20, Điều 9 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 thì "Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền".
Theo định nghĩa này có thể biết đƣợc những khoản tiền nào của khách hàng đƣợc coi là tiền gửi, nhƣng những khoản tiền đó phải đƣợc gửi tại các tổ chức tín dụng, còn những khoản tiền gửi tại các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng thì không đƣợc coi là tiền gửi. Đây chính là một điểm bất cập của pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Chính vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004 đã có sự thay đổi lớn về phạm vi và chủ thể gửi tiền khi xác định: "Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khác có hoạt động ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền" [khoản 3 Điều 1].
Tuy nhiên, hiện nay, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 lại không đƣa ra khái niệm tiền gửi nữa mà thay vào đó là khái niệm "nhận tiền gửi" với ý nghĩa là một trong những nghiệp vụ của hoạt động ngân hàng, theo đó: "Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận" [khoản 13 Điều 4]. Theo định nghĩa này, phạm vi và nguyên tắc hoàn trả tiền gửi đã đƣợc mở rộng hơn so với các định nghĩa nêu trên và phù hợp hơn với điều kiện phát triển kinh tế hiện nay, cụ thể là tiền gửi còn đƣợc ghi nhận dƣới hình thức chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và tiền gửi đƣợc hoàn trả theo "nguyên tắc thỏa thuận". Qua phần dẫn chiếu ở trên có thể thấy rằng ở mỗi quốc gia lại có một quan niệm khác nhau về tiền gửi, song có thể khái quát ngắn gọn khái niệm về tiền gửi nhƣ sau: Tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng dưới những hình thức được pháp luật công nhận và được hoàn trả cho khách hàng trên nguyên tắc thỏa thuận nhưng không trái với các quy định của pháp luật. Trên thực tế, các tổ chức đƣợc phép nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân trong xã hội không phải là chủ thể "giữ hộ" tài sản của ngƣời gửi tiền mà họ chính là những trung gian tài chính trong nền kinh tế, họ sử dụng khoản tiền gửi của khách hàng để thực hiện các hoạt động đầu tƣ, cấp tín dụng cho các đối tƣợng có nhu cầu sử dụng vốn trong xã hội… Điều này có nghĩa là các tổ chức đƣợc phép nhận tiền gửi sẽ có trách nhiệm phải hoàn trả cho ngƣời gửi 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiền cả gốc và lãi số tiền họ đã gửi khi đáo hạn hoặc khi ngƣời gửi tiền có nhu cầu (trong những trƣờng hợp đƣợc thỏa thuận có thể rút tiền trƣớc hạn) mà không phụ thuộc vào việc các tổ chức này có thu đƣợc nợ từ việc cho các đối tƣợng khác vay hay không? Nhƣ vậy, có thể thấy rằng hoạt động ngân hàng luôn chứa đựng sự rủi ro rất lớn và dân chúng sẽ có tâm lý e ngại việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng bởi nếu xảy ra trƣờng hợp các tổ chức này đổ vỡ thì tiền gửi của họ cũng sẽ mất theo.
Do đó, để huy động đƣợc nguồn vốn trong dân cƣ, thúc đẩy kinh tế phát triển thì việc tạo dựng niềm tin đối với dân chúng là hết sức quan trọng. Chính vì vậy, sự ra đời của tổ chức bảo hiểm tiền gửi là một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế nhằm tạo ra sự ổn định và phát triển bền vững cho hoạt động của hệ thống tài chính - tiền tệ nói riêng cũng nhƣ an ninh kinh tế - chính trị nói chung của toàn xã hội. * Khái niệm bảo hiểm tiền gửi: Bảo hiểm tiền gửi là thuật ngữ đã xuất hiện từ khá lâu nhƣng cho đến nay vẫn chƣa có một khái niệm thống nhất về nó.