phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự nguyện hòa giải trong luật hình sự. Chƣơng 2: Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam 2015 về miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự nguyện hòa giải Chƣơng 3: Thực trạng áp dụng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong trường hợp tự nguyện hòa giải trong giai đoạn hiện nay. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TRƢỜNG HỢP TỰ NGUYỆN HÒA GIẢI TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và một số nội dung cơ bản liên quan đến vấn đề miễn trách nhiệm hình sự đối với trƣờng hợp tự nguyện hòa giải.
Bản chất và khái niệm miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp tự nguyện hòa giải. Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, được thể hiện bằng việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau của Nhà nước do Luật hình sự quy định. Tuy nhiên, trên thực tế không phải tất cả các tội phạm và các trường hợp phạm tội đều giống nhau. Do đó, để công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, cùng với việc phân loại tội phạm, Luật hình sự Việt Nam cũng đồng thời phân hóa các trường hợp phạm tội, các đối tượng phạm tội khác nhau để có đường lối xử lý phù hợp, nhanh chóng, chính xác, công bằng và đúng pháp luật.
Đặc biệt, sự phân hóa các trường hợp phạm tội và người phạm tội còn thể hiện ở chỗ, không phải tất cả các trường hợp phạm tội hay tất cả người phạm tội đều bị truy cứu TNHS. Đó là trường hợp khi có đầy đủ những điều kiện nhất định, thì một người đã phạm tội họ có thể không phải chịu TNHS, có thể được miễn TNHS [1, tr. Miễn TNHS thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng, hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Do đó, chế định miễn TNHS thể hiện phương châm đúng đắn của đường lối xử lý về hình sự, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình sự nghiêm khắc của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo dục người phạm tội, qua đó hạn chế áp dụng biện pháp mang tính trấn áp về mặt hình sự.
Là một căn cứ thuộc quy định về miễn TNHS, do đó, trước khi phân tích làm rõ nội hàm bản chất của quy định về miễn TNHS trong trường hợp tự nguyện hòa giải, tác giả sẽ đề cập lại bản chất pháp lý và nội dung của quy định miễn TNHS, cụ thể như sau: Thứ nhất, bản chất pháp lý của miễn TNHS là việc không buộc một người phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc thực hiện hành vi phạm tội, khi người đó đáp ứng được các căn cứ theo quy định của pháp luật. Theo đó, các cơ quan có thẩm quyền tương ứng với giai đoạn tố tụng có thể căn cứ vào các yếu tố như sự chuyển biến tình hình, hoàn cảnh, chủ thể thực hiện tội phạm…. qua đó xem xét, đánh giá rằng việc buộc người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm pháp lý là không cần thiết, mà vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, đảm bảo được chức năng giáo dục người phạm tội. Thứ hai, miễn TNHS là một trong những chế định phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự, thể hiện sự khoan hồng của Luật hình sự đối với người phạm tội.
Mức độ, phạm vi của sự khoan hồng của Luật hình sự đối với người phạm tội được quyết định bởi điều kiện xã hội và bị ràng buộc bởi các yêu cầu khác của Luật hình sự mà trước hết là công bằng và công lý xã hội [2, tr. Thứ ba, miễn TNHS phản ánh chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội, thể hiện nguyên tắc cơ bản của luật hình sự “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”,“trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo”. Sự phân hóa trong luật hình sự được thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau, trong đó có miễn TNHS [3, tr. Do đó, về cơ bản người thực hiện hành vi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm tội lẽ ra phải chịu TNHS, tuy nhiên do người phạm tội thỏa mãn điều kiện nhất định mà pháp luật quy định, nên việc truy cứu TNHS và buộc họ phải chịu TNHS trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể đó là không cần thiết, và vì thế miễn TNHS vẫn đảm bảo tác dụng đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như cải tạo giáo dục họ tốt hơn.
Thứ tư, giữa miễn TNHS và trách nhiệm hình sự có mối liên hệ chặt chẽ và thống nhất. Theo đó, miễn TNHS, là chế định thể hiện tính nhân đạo sâu sắc với nội dung thực hiện chính sách “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng”, “trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo người phạm tội”, còn TNHS là chế định thể hiện sự lên án, nghiêm trị của Nhà nước, thông qua việc buộc người đã thực hiện hành vi phạm tội phải chấp hành hình phạt và mang án tích. Tuy nhiên, chế định miễn TNHS và chế định TNHS đều hướng đến một nhiệm vụ chung, xuyên suốt đó là nhằm đấu tranh phòng và chống tội phạm, và được pháp luật hình sự quy định rõ ràng, cụ thể. Thứ năm, miễn TNHS chỉ được áp dụng đối với người mà trong hành vi của họ đã thỏa mãn cấu thành của tội phạm cụ thể được pháp luật hình sự quy định, đồng thời phải đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện trong từng trường hợp mà pháp luật hình sự hiện hành quy định, cũng như tùy thuộc vào từng trường hợp miễn TNHS đó là tùy nghi hay bắt buộc.
Bởi lẽ, ngay cả trường hợp khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện quy định trong điều luật, nhưng nếu trường hợp đó là tùy nghi thì việc có áp dụng hay không áp dụng miễn TNHS đều do các cơ quan có thẩm quyền quyết định [4, tr. Thứ sáu, miễn TNHS do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định phải được thể hiện bằng văn bản. Thứ bảy, phụ thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, miễn TNHS chỉ được thực hiện bởi một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể, đó là cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án, và phải đáp ứng đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện do pháp luật quy định.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ tám, người được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của hành vi phạm tội do mình thực hiện. Cụ thể, người phạm tội không bị truy cứu TNHS, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội. Mặc dù vậy, người được miễn TNHS vẫn có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý của các ngành luật phi hình sự khác, đơn cử: Các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; Buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt hại…. theo quy định của pháp luật dân sự; phạt tiền, cảnh cáo hoặc buộc thôi việc theo quy định của pháp luật hành chính;…[5, tr.
Trịnh Tiến Việt, để đưa ra một khái niệm đầy đủ và chính xác về nội dung, ngắn gọn và nhất quán về ngôn ngữ pháp lý, đồng thời phù hợp với thực tiễn xét xử và chính sách nhân đạo của Nhà nước, khái niệm miễn TNHS dưới góc độ khoa học Luật hình sự phải thể hiện được những nội dung cơ bản sau: a) Bản chất pháp lý; b) Điều kiện áp dụng; c) Đối tượng bị áp dụng; d) Hậu quả pháp lý hình sự; đ) Chủ thể có thẩm quyền áp dụng [6, tr. Từ đó, căn cứ trên cơ sở quan điểm của các học giả trong nước và thế giới, cùng với việc phân tích các đặc điểm của miễn TNHS, theo quan điểm cá nhân người viết thì “Miễn trách nhiệm hình sự là việc cơ quan có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tiến hành tố tụng tương ứng không buộc một người phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do tội phạm mà họ thực hiện khi đáp ứng những căn cứ và điều kiện do pháp luật hình sự quy định, mà vẫn đảm bảo được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cũng như công tác cải tạo giáo dục người phạm tội”. Từ những phân tích trên, liên quan tới vấn đề miễn TNHS trong trường hợp tự nguyện hòa giải, như chúng ta được biết hòa giải là một thủ tục quen thuộc trong hoạt động giải quyết các vụ việc dân sự. Nội dung của việc hòa 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giải nhằm giải quyết tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Thủ tục hòa giải trong tố tụng dân sự xuất phát từ sự tôn trọng của pháp luật dành cho các bên trong việc tự do, tự nguyện thỏa thuận, định đoạt quyền và nghĩa vụ dân sự của mình, miễn không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, xuất phát từ sự tôn trọng quyền tự định đoạt của chủ thể đối với các quyền dân sự trong vụ án hình sự, cụ thể là việc, người phạm tội đã nhận ra hành vi của mình là trái pháp luật, đã tự nguyện thỏa thuận với nạn nhân về việc sửa chữa, khắc phục, bồi thường những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Nạn nhân cũng đồng ý với việc thừa nhận hành vi sai trái và việc bồi thường của người phạm tội, qua đó mà quyền và lợi ích của nạn nhân được khôi phục một cách nhanh chóng nhất, mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội cũng như yêu cầu phòng, chống đấu tranh chống tội phạm cũng được đảm bảo.