Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CĂN CỨ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, những đặc điểm của căn cứ miễn trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự Miễn TNHS là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự Việt Nam, có quan hệ chặt chẽ và gắn liền với chế định TNHS. Chính vì vậy, trước khi làm rõ khái niệm căn cứ miễn TNHS cần thiết phải làm sáng tỏ khái niệm TNHS (i) và khái niệm miễn TNHS (ii).
* Khái niệm TNHS Việc quy định miễn TNHS trong BLHS Việt Nam thể hiện phương châm đúng đắn của đường lối xử lý về hình sự, bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội khác để cải tạo, giáo dục người phạm tội, qua đó hạn chế áp dụng các biện pháp mang tính trấn áp về mặt hình sự. Hơn nữa, nó thể hiện nguyên tắc “nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục” xuyên suốt trong chính sách hình sự của Nhà nước ta [62, tr. Khái niệm, cơ sở và nội dung của miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm, cơ sở và nội dung của TNHS. Cho nên, để tìm hiểu khái niệm và bản chất pháp lý của miễn TNHS, thì không thể không xem xét khái niệm TNHS và những nội dung xung quanh vấn đề này.
Bởi lẽ, việc nhận thức khoa học đúng đắn về TNHS sẽ tạo cơ sở vững chắc cho nhận thức về miễn TNHS. Do vậy, trước khi đi vào nghiên cứu khái niệm và bản chất pháp lý của chế định miễn TNHS cần phải hiểu khái niệm và một số nội dung cơ bản xung quanh chế định TNHS trong luật hình sự Việt Nam. 8 z Về khái niê ̣m TNHS , về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về nội dung của nó (áp dụng đối với cá nhân người phạm tội) như: TNHS là một dạng trách nhiệm pháp lý, là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của Nhà nước và người phạm tội, được thể hiện ở các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự mà luật hình sự quy định, áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, bao gồm hình phạt và các biện pháp tác động có tính chất pháp lý hình sự khác không phải hình phạt và được bắt đầu từ khi truy cứu TNHS đối với một người [23, tr.8] hay TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định [5, tr.v… Như vậy, có thể thấy , viê ̣c xác đinh ̣ khái niê ̣m TNHS trong khoa ho ̣c luâ ̣t hin ̀ h sự Viê ̣t Nam mă ̣c dù có những nhâ ̣n thức khác nhau nhưng tựu chung la ̣i đề u có những điể m chung cố t lõi khi áp dụng đối với cá nhân. Những điể m chung này có thể nhâ ̣n thấ y ở các nô ̣i dung cơ bản thể hiê ̣n ở đă ̣c điể m của TNHS.
Theo đó , TNHS có các đă ̣c điể m cơ bản được thừa nhận chung như sau: (i) TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm; (ii) TNHS là trách nhiê ̣m của cá nhân (hiện nay có cả pháp nhân thương mại phạm tội theo quy định của BLHS năm 2015); (iii) TNHS được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định; (iv) TNHS là trách nhiệm trước Nhà nước, kết quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Đồng thời, từ những đă ̣c điể m của TNHS, chúng ta cần phải nghiên cứu về cơ sở và những điều kiện của TNHS. Cơ sở của TNHS là yêu tố quan tro ̣ng 9 z trong viê ̣c bảo đảm xác đinh ̣ đúng đắ n TNHS đố i với người pha ̣m tô ̣i. Lê Văn Cảm đã viết: Cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và Điều kiện của TNHS là căn cứ riêng cần và đủ, có tính chất bắt buộc và do luật hình sự quy định mà chỉ khi nào có tổng hợp tất cả chúng (các căn cứ riêng đó) thì một người mới phải chịu TNHS [5, tr.
Như vậy, một người chỉ phải chịu TNHS khi người đó có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của TNHS về một tội phạm. Song, trên thực tế có một số trường hợp mặc dù có đầy đủ cơ sở và những điều kiện của TNHS nhưng khi có căn cứ và những điều kiện nhất định, thì một người đã phạm tội có thể bị truy cứu TNHS, có thể không phải chịu TNHS hoặc cũng có thể được miễn TNHS. Do đó, từ logíc này, có thể khẳng định rằng, khái niệm và cơ sở của miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm và cơ sở của TNHS. * Khái niệm miễn TNHS Là một trong những chế định quan trọng trong luật hình sự Việt Nam, miễn TNHS thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội và hành vi do họ thực hiện, đồng thời qua đó nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng và giúp họ trở thành người có ích cho xã hội.
Hiện nay, cũng giống như khái niệm TNHS, trong khoa học luật hình sự xung quanh khái niệm miễn TNHS vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau song cơ bản nội hàm là thống nhất, cụ thể là: GS. Lê Văn Cảm định nghĩa: “Miễn TNHS là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó” [6, tr. Lê Thi ̣Sơn cho rằ ng: Miễn TNHS đối với người phạm tội có nghĩa là miễn truy cứu TNHS và đương nhiên kéo theo cả miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do việc thực hiện TNHS từ phía Nhà nước đem lại như: miễn bị kết tội, miễn phải chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và miễn bị mang án tích. Trên thực tế có thể có trường hợp người phạm tội được Tòa án miễn TNHS trong giai đoạn xét xử.
Trong trường hợp này, miễn TNHS chỉ bao gồm miễn chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS và miễn mang án tích [43, tr.19]; Gần đây, TS. Trịnh Tiến Việt định nghĩa: Miễn TNHS là trường hợp không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người đó [64, tr. Như vậy, về cơ bản các quan điểm trên đây về khái niệm miễn TNHS đều đầy đủ về nội dung, ngắn gọn và điều quan trọng là thống nhất trong việc khẳng định rõ được nội dung và bản chất pháp lý của nó. Tuy nhiên, để đưa ra một khái niệm đầy đủ và chính xác về nội dung, ngắn gọn và nhất quán về mặt pháp lý, đồng thời phù hợp với thực tiễn và chính sách nhân đạo của Nhà nước, theo học viên, khái niệm miễn TNHS phải bao gồm các nội dung như: (i) Bản chất pháp lý của nó (miễn TNHS) là gì; (ii) Thẩm quyền áp dụng; (iii) Đối tượng bị áp dụng là ai và; (iv) Đáp ứng căn cứ nào và (v) Mục đích áp dụng làm gì.
Như vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự Việt Nam, theo học viên, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Miễn TNHS là trường hợp cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền không buộc một người đáp ứng những căn cứ nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người đó. 11 z * Khái niệm căn cứ miễn TNHS Như vậy, từ khái niệm miễn TNHS, để một người không bị buộc phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc đã thực hiện hành vi phạm tội trên những cơ sở chung mà lẽ ra người đó phải chịu, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người đó, thì đòi hỏi phải có những căn cứ nhất định, đó là căn cứ pháp lý để miễn TNHS do luật định. “Căn cứ”, theo Từ điể n tiế ng Viê ̣t “ là cái làm chỗ dựa, làm cơ sở (để lập luận hoặc hành động)” [29, tr. Còn theo Đại từ điển tiếng Việt, “căn cứ” là: “1.
Dựa vào đó để lập luận, hoạt động cho chắn chắn, chính xác; 2. Cái làm cơ sở để lập luận, hành động” [65, tr.200] Do đó, từ khái niệm miễn TNHS và khái niệm căn cứ , dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo học viên, khái niệm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau: Căn cứ miễn TNHS được hiểu là các tình tiế t (hay các trường hợp) mà chỉ có thể và cần dựa vào đó , các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyề n tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng sẽ ra quyế t đi ̣nh miễn TNHS đối với người phạm tội. Những đăc̣ điểm của căn cứ miễn trách nhiê ̣m hình sự Trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn, căn cứ miễn TNHS phản ánh những đặc điểm cơ bản sau đây: * Căn cứ miễn TNHS là cơ sở pháp lý của miễn TNHS Căn cứ m iễn TNHS là tình tiế t (hay trường hơ ̣p ) mà chỉ có và cần dựa vào đó các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng sẽ ra quyết định miễn TNHS đối với người phạm tội. Nói một cách khác, các trường hợp miễn TNHS đều phải căn cứ vào các tình tiết, trường hợp và điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật.